Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã xác lập một tầm nhìn phát triển mới cho đất nước. Trong đó, mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số mỗi năm không chỉ là khát vọng mà còn trở thành yêu cầu chiến lược cấp thiết.
Những tín hiệu tích cực
Sau giai đoạn phục hồi hậu đại dịch COVID-19, thị trường lao động Việt Nam năm 2025 ghi nhận những tín hiệu tích cực. Lực lượng lao động và số người có việc làm tăng trở lại. Thu nhập bình quân của người lao động (NLĐ) được cải thiện. Cơ cấu lao động tiếp tục dịch chuyển theo hướng công nghiệp – dịch vụ.
Theo số liệu của Cục Thống kê – Bộ Tài chính, năm 2025, lực lượng lao động cả nước khoảng 53,5 triệu người; số người có việc làm khoảng 52,4 triệu; thu nhập bình quân của NLĐ đạt khoảng 8,7 triệu đồng/tháng. Khu vực dịch vụ chiếm hơn 40% tổng số việc làm, phản ánh xu hướng chuyển dịch phù hợp với quá trình đô thị hóa và phát triển kinh tế.

Người trẻ đóng góp thiết thực trong lĩnh vực máy bay không người lái (UAV) tại Tập đoàn C.T Group .Ảnh: GIANG NAM
Những con số nêu trên cho thấy thị trường lao động đã vượt qua giai đoạn khó khăn nhất và đang dần lấy lại nhịp vận hành bình thường. Thế nhưng, đặt trong yêu cầu tăng trưởng 2 con số, những tín hiệu tích cực mới chỉ phản ánh sự phục hồi về số lượng, thị trường lao động vẫn chưa bảo đảm chất lượng và chiều sâu. Tăng trưởng nhanh và bền vững không thể tiếp tục dựa vào lợi thế lao động giá rẻ hay mở rộng số lượng việc làm, mà phải dựa vào năng suất, kỹ năng và khả năng tạo giá trị gia tăng của NLĐ.
Thực tiễn cho thấy nếu chỉ nhìn vào số lượng việc làm hay tỉ lệ NLĐ có việc làm, thị trường lao động có thể tạo ra cảm giác ổn định ngắn hạn. Song, khi đặt trong mối quan hệ với năng suất lao động, thu nhập thực tế và khả năng bảo đảm an sinh xã hội (ASXH) thì thị trường lao động vẫn còn một số hạn chế. Đây chính là những điểm nghẽn lớn, nếu không được tháo gỡ kịp thời sẽ trở thành lực cản đối với mục tiêu tăng trưởng nhanh trong giai đoạn tới.
Một trong những thách thức lớn nhất của thị trường lao động Việt Nam hiện nay là chất lượng nguồn nhân lực chưa theo kịp yêu cầu của mô hình tăng trưởng mới. Khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu thực tế của doanh nghiệp vẫn tồn tại. Nhiều doanh nghiệp phản ánh thiếu lao động có kỹ năng phù hợp, trong khi vẫn có một bộ phận không nhỏ lao động làm việc không đúng chuyên môn hoặc thiếu việc làm.
Đáng chú ý, thị trường lao động đang chứng kiến những biến đổi sâu sắc trong hành vi của lực lượng lao động trẻ. Tỉ lệ thất nghiệp ở thanh niên vẫn cao hơn mặt bằng chung; xu hướng “nhảy việc”, làm việc ngắn hạn, ít gắn bó với quan hệ lao động chính thức ngày càng phổ biến.
Khi việc làm chính thức chưa bảo đảm mức thu nhập tương xứng, trong khi rủi ro nghề nghiệp và chi phí ASXH phần lớn được chuyển sang NLĐ, nhiều người lựa chọn không gắn bó lâu dài. Hệ quả là thị trường lao động chưa đủ sức hấp dẫn để khuyến khích NLĐ, nhất là lao động trẻ, đầu tư lâu dài vào kỹ năng và sự nghiệp.
Tháo gỡ những “nút thắt”
Đại hội XIV của Đảng xác định phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, là một trong 3 đột phá chiến lược của kỷ nguyên phát triển mới. Điều này đòi hỏi thị trường lao động phải được tái cấu trúc mạnh mẽ, không chỉ là nơi “hấp thụ” mà còn là không gian nâng cấp lao động, nơi năng suất được hình thành và giá trị lao động được gia tăng bền vững.
Một thị trường lao động có năng suất cao không thể tách rời khỏi việc làm chính thức và hệ thống ASXH vững chắc. Tuy nhiên, đây lại là điểm yếu mang tính cơ cấu của thị trường lao động Việt Nam hiện nay. Khu vực phi chính thức vẫn chiếm khoảng 65% tổng số việc làm. Với khu vực phi nông nghiệp, tỉ lệ này dao động từ 55% – 57%, tập trung chủ yếu ở dịch vụ, thương mại nhỏ lẻ và lao động nền tảng số.
Điều này đồng nghĩa với việc hàng chục triệu lao động đang làm việc “ngoài vùng phủ sóng” của quan hệ lao động chính thức và hệ thống BHXH. Xu hướng lao động trẻ rời xa khu vực chính thức, ưu tiên công việc linh hoạt, ít ràng buộc pháp lý ngày càng rõ nét. Nguyên nhân sâu xa không chỉ nằm ở NLĐ, mà còn ở việc thiết kế chính sách và thể chế. Khi chi phí tham gia khu vực chính thức còn cao, các mô hình việc làm linh hoạt nhưng ASXH chưa được thừa nhận đầy đủ, chính sách chậm thích ứng với sự phát triển của kinh tế số, thì việc NLĐ rời xa khu vực chính thức là phản ứng mang tính thích nghi.
Để thị trường lao động thực sự trở thành “bệ đỡ” cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số, chính sách lao động – việc làm cần được điều chỉnh theo hướng căn cơ, dài hạn và nhất quán. Trước hết, cần chuyển mạnh từ mục tiêu “tạo đủ việc làm” sang “tạo việc làm có chất lượng”, gắn chặt các chỉ tiêu việc làm với năng suất, thu nhập thực tế và khả năng tham gia ASXH.
Cùng với đó, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phải trở thành trục xuyên suốt của chính sách thị trường lao động, với trọng tâm là đào tạo lại và nâng cao kỹ năng cho lực lượng lao động đang làm việc. Mở rộng việc làm chính thức, thiết kế các mô hình quan hệ lao động linh hoạt nhưng bảo đảm quyền lợi cốt lõi, đồng thời tái định vị vai trò của nhà nước theo hướng kiến tạo và điều phối chiến lược là những điều kiện không thể thiếu.
Tựu trung, chỉ khi nào thị trường lao động được phát triển theo hướng linh hoạt nhưng có kỷ cương, hiện đại bao trùm, gắn chặt với năng suất và ASXH, thì mới có thể trở thành “bệ đỡ” vững chắc cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước.
Việc làm chính thức – nền tảng bền vững
Việc làm chính thức không chỉ là vấn đề pháp lý mà còn là điều kiện nền tảng để nâng cao năng suất và bảo đảm ASXH. Khi NLĐ được tham gia BHXH, bảo hiểm thất nghiệp, họ có động lực đầu tư dài hạn vào kỹ năng và sự nghiệp.
Ngược lại, khu vực phi chính thức lớn kéo theo rủi ro ASXH, giảm tích lũy kỹ năng và làm suy yếu nền tảng tăng trưởng. Vì vậy, mở rộng việc làm chính thức không phải là “gánh nặng chi phí”, mà là khoản đầu tư cho năng suất, ổn định xã hội và sức cạnh tranh của nền kinh tế trong dài hạn.
Nguồn: https://nld.com.vn/tai-cau-truc-manh-me-thi-truong-lao-dong-196260212211121335.htm

