Sau giai đoạn chịu nhiều tác động từ đại dịch COVID-19 và những bất ổn về kinh tế toàn cầu, thị trường lao động Việt Nam đang dần phục hồi và ổn định trở lại. Quy mô lực lượng lao động tiếp tục mở rộng, việc làm được duy trì, thu nhập của người lao động (NLĐ) từng bước cải thiện.
Lợi thế và thách thức
Tuy nhiên, khi nền kinh tế đặt mục tiêu phát triển cao hơn trong giai đoạn mới, nhất là mục tiêu tăng trưởng 2 con số, thị trường lao động cũng bộc lộ những thách thức lớn. Quy mô lao động đông chưa đồng nghĩa với hiệu quả cao; năng suất và chất lượng nguồn nhân lực vẫn là vấn đề cần được cải thiện mạnh mẽ.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2025, lực lượng lao động của Việt Nam đạt hơn 53 triệu người, trong đó hơn 52 triệu người có việc làm. Thu nhập bình quân của NLĐ khoảng 8,7 triệu đồng/tháng và tiếp tục xu hướng cải thiện so với các năm trước.
Sang năm 2026, thị trường lao động vẫn duy trì đà ổn định. Tại nhiều khu công nghiệp ở TP HCM, Đồng Nai hay Tây Ninh, nhu cầu tuyển dụng vẫn khá lớn khi doanh nghiệp (DN) phục hồi sản xuất và mở rộng đơn hàng. Các DN trong lĩnh vực điện tử, dệt may, chế biến thực phẩm thường xuyên tổ chức những đợt tuyển dụng hàng trăm, thậm chí hàng ngàn lao động.
Ở góc độ vĩ mô, quy mô lực lượng lao động lớn được xem là một lợi thế quan trọng của Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế. Nhiều năm qua, nguồn nhân lực dồi dào giúp Việt Nam duy trì sức cạnh tranh trong nhiều ngành sản xuất, xuất khẩu như dệt may, điện tử, chế biến thực phẩm hay lắp ráp thiết bị. Song, khi nền kinh tế bước sang giai đoạn phát triển mới, vấn đề đặt ra không chỉ là bao nhiêu người có việc làm mà quan trọng hơn là năng suất và chất lượng của lực lượng lao động đó ra sao.
Cùng với sự gia tăng về quy mô, cơ cấu lao động Việt Nam cũng tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực. Theo thống kê, khu vực dịch vụ hiện chiếm hơn 40% tổng số việc làm của nền kinh tế. Lao động trong các ngành công nghiệp và xây dựng duy trì tỉ trọng lớn, trong khi lao động nông nghiệp tiếp tục giảm dần.
Xu hướng này phản ánh tiến trình công nghiệp hóa và đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ. Khi các ngành dịch vụ, logistics, thương mại điện tử hay công nghiệp chế biến phát triển nhanh, nhu cầu lao động trong những lĩnh vực này ngày càng tăng.

Sinh viên tham gia ngày hội trải nghiệm công nghệ và sáng tạo do Trường ĐH FPT TP HCM tổ chức
TP HCM – trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước – là nơi thể hiện rõ xu hướng chuyển dịch nêu trên. Nhiều DN trong các lĩnh vực công nghệ, tài chính, logistics, thương mại điện tử liên tục mở rộng hoạt động, kéo theo nhu cầu lớn về lao động có kỹ năng.
Khảo sát của Talentnet – công ty tư vấn và cung cấp các giải pháp nhân sự toàn diện – cho thấy giai đoạn 2025-2030, TP HCM có thể cần thêm từ 800.000 đến hơn 1 triệu lao động, chủ yếu trong các ngành công nghiệp, dịch vụ hiện đại và sản xuất công nghệ cao. Do đó, nhu cầu nhân lực chất lượng cao sẽ tiếp tục tăng mạnh trong những năm tới.
Thế nhưng, đằng sau bức tranh tăng trưởng của thị trường lao động vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết. Theo thống kê, năm 2025, tỉ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ mới đạt khoảng 29,5%. Tỉ lệ này dù đã cải thiện nhưng vẫn còn khá thấp so với yêu cầu của một nền kinh tế đang chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa nhiều hơn vào tri thức và công nghệ.
Chuyển từ “đông” sang “mạnh”
Một nghịch lý đang tồn tại trên thị trường lao động là nhiều DN thiếu nhân sự có kỹ năng, trong khi một bộ phận NLĐ lại gặp khó khăn khi tìm việc làm phù hợp với chuyên môn.
TS Phạm Anh Thắng, Phó Chánh Văn phòng Bộ Nội vụ, cho rằng vấn đề cốt lõi không phải là quy mô lực lượng lao động mà là chất lượng và mức độ phù hợp của kỹ năng. Theo ông, để đạt được mức tăng trưởng kinh tế cao thì không thể chỉ dựa vào lợi thế lao động giá rẻ hay mở rộng số lượng việc làm. Điều quan trọng hơn là nâng cao năng suất lao động, cải thiện chất lượng nguồn nhân lực và tăng cường sự gắn kết giữa đào tạo với nhu cầu của DN.
Thực tế này cũng được nhiều tổ chức quốc tế ghi nhận. Các nghiên cứu về thị trường lao động Việt Nam cho thấy khoảng cách giữa kỹ năng NLĐ có và kỹ năng DN cần – thường được gọi là “skills gap” – vẫn khá lớn. Đây là một trong những rào cản quan trọng đối với việc nâng cao năng suất lao động. Không chỉ vậy, nhiều DN sản xuất tại Việt Nam còn gặp khó khăn trong việc tuyển dụng lao động có kỹ năng phù hợp, nhất là các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và công nghệ.
Bên cạnh vấn đề kỹ năng, thị trường lao động Việt Nam cũng đang chứng kiến những thay đổi đáng chú ý trong hành vi của NLĐ, nhất là người trẻ. TS Huỳnh Anh Bình, Giám đốc Trung tâm Hướng nghiệp TP HCM, nhận xét xu hướng “nhảy việc”, lựa chọn các công việc ngắn hạn hoặc làm việc tự do đang ngày càng phổ biến. Nhiều người trẻ sẵn sàng rời bỏ quan hệ lao động chính thức để tìm kiếm công việc linh hoạt hơn, dù thu nhập có thể không ổn định.
Bên cạnh đó, khu vực việc làm phi chính thức vẫn chiếm tỉ lệ lớn trong nền kinh tế. Theo số liệu thống kê, khoảng 65% số việc làm hiện nay thuộc khu vực phi chính thức – nơi NLĐ ít được bảo vệ bởi các chính sách an sinh như BHXH hay hợp đồng lao động dài hạn.
Điều này không chỉ làm giảm tính ổn định của thị trường lao động mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất về lâu dài. Khi DN phải thường xuyên thay đổi nhân sự hoặc sử dụng lao động ngắn hạn, việc đầu tư đào tạo dài hạn cho NLĐ cũng trở nên khó khăn hơn.

Sinh viên Khoa Kỹ thuật và Quản lý công nghiệp Trường ĐH Quốc tế – ĐHQG TP HCM tham quan Nhà máy Bosch Việt Nam
Trong khi đó, sự phát triển nhanh của công nghệ cũng đang tạo ra áp lực mới đối với thị trường lao động. Theo báo cáo “Tương lai việc làm” của Diễn đàn Kinh tế thế giới, gần một nửa số kỹ năng lao động hiện nay có thể thay đổi trong vòng vài năm tới do tác động của công nghệ tự động hóa và trí tuệ nhân tạo. Điều này đồng nghĩa NLĐ phải liên tục cập nhật và nâng cao kỹ năng để thích ứng với những yêu cầu mới của thị trường.
Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số trong giai đoạn phát triển mới, thị trường lao động được xem là một trong những trụ cột quan trọng của nền kinh tế. Lúc này, việc mở rộng số lượng việc làm thôi là chưa đủ, điều quan trọng hơn là nâng cao năng suất lao động và chất lượng nguồn nhân lực.
Nhiều chuyên gia nhìn nhận thị trường lao động Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển đổi, từ lợi thế lao động giá rẻ sang mô hình phát triển dựa nhiều hơn vào kỹ năng, tri thức và công nghệ. Điều này đòi hỏi các chính sách liên quan phải chuyển trọng tâm từ “tạo đủ việc làm” sang “tạo việc làm có chất lượng”.
Khi nào NLĐ có kỹ năng cao hơn, thu nhập tốt hơn và quan hệ lao động ổn định hơn, thị trường lao động mới thực sự trở thành nền tảng cho việc tăng trưởng nhanh và bền vững. Nói cách khác, lợi thế lao động quy mô lớn chỉ phát huy giá trị khi thị trường lao động chuyển từ “đông” sang “mạnh”.
TS Huỳnh Anh Bình nhận định TP HCM có lợi thế về lực lượng lao động phong phú, năng động và khả năng thích ứng nhanh. Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực vẫn chưa theo kịp yêu cầu phát triển mới của nền kinh tế, nhất là ở các lĩnh vực công nghệ, đòi hỏi kỹ năng nghề chuyên sâu.
TS Huỳnh Anh Bình băn khoăn: “Nhiều NLĐ có bằng cấp nhưng thiếu kỹ năng thực hành, trong khi DN tại TP HCM ngày càng đòi hỏi cao hơn từ nguồn nhân lực”.
Nhu cầu tuyển dụng tiếp tục tăng
Khảo sát của Cốc Cốc Research phối hợp với Việc Làm 24h cho thấy khoảng 77% DN dự kiến tuyển thêm nhân sự trong 12 tháng tới, phản ánh tâm lý lạc quan trước triển vọng phục hồi và mở rộng sản xuất năm 2026.
Tại TP HCM, Trung tâm Dịch vụ việc làm ước tính nhu cầu tuyển dụng sau Tết năm nay khoảng 50.400 – 55.500 vị trí, tăng gần 7% so với cùng kỳ năm ngoái, tập trung ở các lĩnh vực bán lẻ – dịch vụ, sản xuất – xây dựng và logistics. Theo Sở Nội vụ TP HCM, các ngành nghề có nhu cầu nhân lực cao thời gian tới gồm: công nghiệp chế biến – chế tạo, dịch vụ – thương mại – logistics, công nghệ thông tin, tài chính, quản trị DN…
(Còn tiếp)
Nguồn: https://nld.com.vn/thuc-day-thi-truong-lao-dong-but-pha-196260308162516798.htm

