Thủy hử là một trong bốn tác phẩm văn học cổ điển vĩ đại nhất của Trung Quốc (Tứ đại danh tác). Bộ tiểu thuyết này do Thi Nại Am viết vào thế kỷ XIV, kể về cuộc đời, chiến công và số phận của 108 anh hùng Lương Sơn Bạc. Họ là những người vì bị bức hại mà tập hợp nhau khởi nghĩa chống lại triều đình phong kiến Bắc Tống.
Thuỷ hử nhiều lần được chuyển thể thành phim truyền hình và có ảnh hưởng sâu rộng đến văn hoá đại chúng, không chỉ ở Trung Quốc mà còn ở nhiều nước Đông Á, trong đó có Việt Nam.
Điều kỳ lạ là trong suốt tác phẩm, không một lần nào hai chữ “thuỷ hử” xuất hiện. Do đó, rất nhiều người dù đọc truyện, xem phim rất nhiều lần nhưng vẫn phải đặt câu hỏi: Thuỷ hử nghĩa là gì?
Tác phẩm “Thuỷ hử” kể về 108 vị anh hùng Lương Sơn Bạc.
Ai là người đặt tên cho tiểu thuyết “Thuỷ hử”?
Thi Nại Am là tác giả chính của tiểu thuyết cổ điển Thủy Hử. Sở dĩ nói ” tác giả chính” vì có giả thuyết cho rằng La Quán Trung (tác giả Tam quốc diễn nghĩa ) là học trò của Thi Nại Am và đã góp sức trong việc biên soạn, chỉnh lý bản thảo.
Thi Nại Am là nhà văn nổi tiếng cuối đời Nguyên – đầu đời Minh trong lịch sử Trung Quốc. Ông là một nho sỹ đỗ đạt nhưng do bất mãn với triều đình nên về ở ẩn và dành thời gian sáng tác văn học.
Giả thuyết La Quán Trung tham gia viết Thủy hử không phải là không có cơ sở. Cả hai tác phẩm Thủy hử và Tam quốc diễn nghĩa đều có kết cấu chương hồi chặt chẽ, bút pháp tả thực và khắc họa nhân vật sắc sảo, khiến nhiều người tin rằng chúng có chung “gốc rễ” sáng tạo. Ngoài ra trên các bản in cổ, đôi khi người ta thấy ghi tên cả hai (Thi Nại Am biên soạn, La Quán Trung chỉnh lãm).
Tuy nhiên, giới nghiên cứu đa số đồng ý rằng Thi Nại Am là người đặt nền móng và xây dựng khung sườn chính của Thuỷ hử .
Bên cạnh đó, cũng có tài liệu cho rằng, người đặt tên tác phẩm Thuỷ hử chính là La Quán Trung. Sau khi sáng tác nên câu chuyện về 108 anh hùng Lương Sơn Bạc, Thi Nại Am định đặt tên tác phẩm là Khách truyện giang hồ nhưng nhận thấy tên gọi đó không đủ để truyền tải nội dung tác phẩm cũng như những ẩn ý sâu xa mà ông gửi gắm trong đó.
Là học trò, La Quán Trung hiểu được nỗi băn khoăn của thầy. Tác giả Tam quốc diễn nghĩa liền gợi ý cái tên Thuỷ hử . Thi Nại Am rất thích cái tên này và ngay lập tức dùng nó cho tác phẩm của mình.
Tranh vẽ tác giả Thi Nại Am.
Thuỷ hử nghĩa là gì?
Hiểu theo nghĩa đen, “thuỷ hử” có nghĩa là bến nước, chỉ Lương Sơn Bạc, vùng đầm hồ bao la tại tỉnh Sơn Đông, nơi 108 anh hùng hảo hán tụ nghĩa để chống lại triều đình thối nát.
Ngoài ra, hai chữ “thuỷ hử” cũng bắt nguồn từ hai câu quen thuộc của bài Miên trong Kinh Thi: ” Cổ Công Đản Phủ lai hướng tẩu mã/Suất tây thủy hử, chí vy kỳ hạ” , gắn liền với điển tích về cuộc di cư của tộc Chu đi tìm vùng đất mới để an cư lạc nghiệp.
Tương truyền, bộ tộc Chu vốn sinh sống ở vùng đất Mân. Nơi đây đất đai cằn cỗi, lại phải chịu sự đe doạ của những thế lực bên ngoài. Sau đó, Chu Thái vương (Cổ Công Đản Phủ) dẫn dắt bộ tộc rời vùng đất dữ, vượt sông, vượt núi, vượt qua bao gian nan, vất vả để đến định cư ở Kỳ Sơn (nay thuộc tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc).
Trái với đất Mân, nơi đây đất đai phì nhiêu, màu mỡ và bình yên. Bộ tộc Chu từ đó ngày càng lớn mạnh và cuối cùng lật đổ nhà Thương, lập nên nhà Chu. Cái tên Thuỷ hử được đặt cho tác phẩm ám chỉ vùng đất mà Chu Thái vương đã dẫn dắt bộ tộc mình tới sinh sống sau khi trải qua nhiều nguy hiểm khó khăn, tạo nên sự hưng thịnh sau này; hành trình của bộ tộc Chu giống như chuyện 108 con người bị xã hội ruồng bỏ, bị tham quan áp bức đã tập hợp với nhau tại vùng đất Lương Sơn Bạc để sinh tồn và tranh đấu tìm công lý.
Tên Thuỷ Hử mang nhiều ý nghĩa sâu xa.
Và xét theo nghĩa này, “thuỷ hử” chỉ nơi người ta dừng chân, tìm thấy con đường sống sau khi trải qua bế tắc, túng quẫn. Nó tượng trưng cho một “vùng đất hứa”, nơi những con người bị dồn vào đường cùng có thể tìm thấy sự công bằng và nghĩa khí.
Nguồn: https://kenh14.vn/thuy-hu-co-nghia-la-gi-21526040208304993.chn

