Cùng với các tiêu chuẩn môi trường, yếu tố “Social” (Xã hội) trong ESG đang trở thành điều kiện tiên quyết để tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, đặc biệt đối với ngành dệt may và nông sản – 2 lĩnh vực sử dụng nhiều lao động và phụ thuộc lớn vào thị trường xuất khẩu.
Các nhà mua hàng quốc tế ngày càng yêu cầu doanh nghiệp phải vượt qua các cuộc kiểm toán xã hội độc lập, nghiêm ngặt trước khi ký hợp đồng hoặc duy trì đơn hàng.
Các bộ tiêu chuẩn như SA8000 (Social Accountability International), BSCI (Business Social Compliance Initiative) và SMETA (Sedex Members Ethical Trade Audit) đang dần trở thành “giấy thông hành” bắt buộc để duy trì hợp đồng xuất khẩu.
Doanh nghiệp không đáp ứng được có nguy cơ bị loại khỏi danh sách nhà cung cấp được chấp thuận, mất đơn hàng, hoặc phải chịu chi phí kiểm toán cao hơn do bị xếp hạng rủi ro tuân thủ ở mức thấp.
Áp lực từ các cuộc kiểm toán xã hội quốc tế ngày càng gia tăng, buộc doanh nghiệp Việt Nam phải chuẩn hóa yếu tố “S” (Social) trong bộ tiêu chí ESG (Ảnh: Greenly).
Tại Việt Nam, áp lực này đặc biệt rõ nét khi EU và Mỹ liên tục siết chặt tiêu chuẩn lao động gắn với các hiệp định thương mại tự do (FTA). Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO – International Labour Organization) đồng thời thúc đẩy việc chuẩn hóa các điều kiện lao động, an toàn và sức khỏe nghề nghiệp (OSH – occupational safety and health), cũng như quyền tự do hiệp hội của người lao động theo các công ước cốt lõi quốc tế.
Tuy nhiên, điểm nghẽn lớn nhất đối với SME không nằm ở “thiếu ý chí tuân thủ”, mà là thiếu hệ thống quản trị lao động có cấu trúc và lo ngại chi phí tuân thủ ban đầu vượt năng lực tài chính.
Thực tế cho thấy nhiều yêu cầu thuộc nhóm tiêu chí Social hoàn toàn có thể triển khai theo hướng tinh gọn, tận dụng công nghệ số và các chương trình hỗ trợ kỹ thuật quốc tế để giảm áp lực tài chính trong giai đoạn đầu.
HỎI – ĐÁP CHUYÊN GIA
Câu hỏi:
Doanh nghiệp dệt may và nông sản Việt Nam cần xây dựng hệ thống quản trị yếu tố Social như thế nào để đáp ứng các cuộc kiểm toán xã hội quốc tế? Làm thế nào để đo lường và chứng minh tuân thủ lao động một cách minh bạch mà không phát sinh chi phí vượt khả năng của SME?
TS. Bùi Thị Thanh Hương – Bộ môn Biến đổi khí hậu và Khoa học bền vững, Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội
Để đáp ứng các yêu cầu kiểm toán xã hội quốc tế, doanh nghiệp cần xây dựng nền tảng quản trị lao động minh bạch từ những yếu tố cơ bản nhất thay vì chạy theo chứng chỉ một cách hình thức. Trọng tâm không nằm ở việc “có chứng nhận”, mà ở năng lực chứng minh dữ liệu và quy trình tuân thủ một cách nhất quán và có thể kiểm chứng qua nhiều chu kỳ kiểm toán.
Trước hết, doanh nghiệp cần đảm bảo toàn bộ người lao động đều có hợp đồng lao động bằng văn bản rõ ràng, đi kèm hệ thống bảng lương được số hóa và lưu trữ đầy đủ theo chuỗi thời gian. Đây là cơ sở tài liệu thiết yếu để chứng minh không tồn tại lao động cưỡng bức hay lao động trẻ em – 2 trong số các tiêu chí nhạy cảm và được kiểm tra ưu tiên nhất trong các bộ tiêu chuẩn SA8000, BSCI và SMETA.
Song song đó, việc xây dựng môi trường làm việc an toàn cần được thực hiện có hệ thống theo chuẩn OSH: từ đánh giá rủi ro nghề nghiệp định kỳ, trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân (PPE – Personal Protective Equipment) phù hợp với từng vị trí, đến thiết lập quy trình báo cáo và theo dõi sự cố.
Các tai nạn lao động, nếu xảy ra, phải được ghi nhận, điều tra nguyên nhân và lưu hồ sơ theo yêu cầu của ILO để đảm bảo tính minh bạch và khả năng truy xuất thông tin trong quá trình kiểm toán.
Một yếu tố thường bị bỏ qua nhưng lại được các kiểm toán viên đánh giá cao là cơ chế khiếu nại và phản hồi nội bộ. Doanh nghiệp nên thiết lập các kênh tiếp nhận ý kiến ẩn danh, ví dụ đường dây nóng hoặc hộp thư phúc lợi, đảm bảo người lao động có thể phản ánh vi phạm mà không lo bị trù dập.
Sự hiện diện của cơ chế này là bằng chứng trực tiếp cho thấy doanh nghiệp có hệ thống quản trị lao động chủ động, không chỉ tuân thủ bị động.
TS. Bùi Thị Thanh Hương – chuyên gia về truyền thông môi trường và phát triển bền vững (Ảnh: NVCC).
Về bài toán chi phí tuân thủ, các doanh nghiệp SME hoàn toàn có thể tiếp cận theo hướng tinh gọn bằng cách ứng dụng các nền tảng công nghệ số chi phí thấp để thu thập và quản lý dữ liệu lao động.
Các công cụ như biểu mẫu trực tuyến như Google Forms, KoboToolbox hay phần mềm quản lý nhân sự mã nguồn mở cho phép doanh nghiệp số hóa hồ sơ lao động và tạo dấu vết kiểm toán kỹ thuật số mà không đòi hỏi đầu tư hạ tầng công nghệ lớn.
Bên cạnh đó, việc tham gia các chương trình hỗ trợ kỹ thuật từ IFC (Tổ chức Tài chính Quốc tế), GIZ (Tổ chức Hợp tác Phát triển Đức) hay các sáng kiến ngành như Better Work (chương trình hợp tác ILO – IFC dành riêng cho ngành dệt may) giúp SME tiếp cận đào tạo, tư vấn tuân thủ và hỗ trợ kiểm toán với chi phí được trợ cấp đáng kể.
Tận dụng tốt các nguồn lực hỗ trợ này, SME hoàn toàn có thể xây dựng hệ thống quản trị lao động đủ tiêu chuẩn quốc tế mà không tạo áp lực tài chính vượt khả năng trong giai đoạn đầu triển khai.
TS. Bùi Thị Thanh Hương là chuyên gia về truyền thông môi trường và phát triển bền vững, với hơn 21 năm kinh nghiệm nghiên cứu và giảng dạy tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Bà là Nhà sáng lập Greentech Spin-off và Z-carbon Corp, đồng thời có hơn 30 công bố khoa học trong và ngoài nước.
Hướng nghiên cứu nổi bật của bà tập trung vào ESG, đặc biệt là yếu tố Môi trường (E) và Xã hội (S), với các ứng dụng thực tiễn như thùng rác thông minh, xử lý rác hữu cơ và nền tảng tích lũy carbon VNNETZERO. Bà cũng phát triển các giải pháp công nghệ giáo dục như học liệu số, VR/AR và ứng dụng ICT.
Nhiều dự án của bà đã được công nhận là tài sản trí tuệ và triển khai trong cộng đồng, tiêu biểu như Smart Refill, 3SR hay hệ thống cảnh báo tiếng ồn trong trường học. Hiện bà theo đuổi nghiên cứu kinh tế tuần hoàn từ tài nguyên rác thải thông minh, hướng tới mục tiêu xây dựng môi trường sống bền vững.
Nguồn: https://dantri.com.vn/kinh-doanh/tieu-chuan-s-trong-esg-doanh-nghiep-det-may-va-nong-san-can-lam-gi-20260330093025975.htm

