Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và gia đình vô cùng thương tiếc báo tin Đại tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lê Văn Dũng, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam từ trần hồi 15h40 ngày 9/1, tại nhà riêng, hưởng thọ 81 tuổi.
Trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, Đại tướng Lê Văn Dũng đã có nhiều thành tích đóng góp cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.
Đại tướng Lê Văn Dũng được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh, tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng và nhiều Huân, Huy chương cao quý khác.
Để tỏ lòng thương tiếc và ghi nhận những thành tích, cống hiến của Đại tướng Lê Văn Dũng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quyết định tổ chức lễ tang Đại tướng Lê Văn Dũng với nghi thức Lễ tang cấp Nhà nước.
Ban Bí thư Trung ương Đảng đã quyết định thành lập Ban lễ tang Nhà nước do ông Đỗ Văn Chiến, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội làm Trưởng Ban.
Linh cữu Đại tướng Lê Văn Dũng quàn tại Nhà tang lễ Quốc gia phía Nam, số 5, Phạm Ngũ Lão, TPHCM.
Lễ viếng tổ chức từ 6h đến 10h30 ngày 14/1, lễ truy điệu từ 10h30 và Lễ an táng từ 17h30 cùng ngày tại đất nhà, số 702 ấp An Bình, xã Phú Túc, tỉnh Vĩnh Long.
Đại tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân Lê Văn Dũng. (Ảnh: TTXVN phát).
Đại tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lê Văn Dũng (tên khai sinh Nguyễn Văn Nới), sinh ngày 25 tháng 12 năm 1945, tại xã Phong Mỹ, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre cũ nay là xã Lương Hoà, tỉnh Vĩnh Long.
Ông tham gia cách mạng ngày 14 tháng 5 năm 1963, vào Đảng ngày 23 tháng 9 năm 1965.
Từ tháng 5 năm 1963 đến tháng 6 năm 1967, ông là chiến sĩ, Tiểu đội phó Đại đội 680, Đại đội 12, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 1, Sư đoàn 9.
Từ tháng 7 năm 1967 đến tháng 5 năm 1968, ông là Trung đội phó, Trung đội trưởng, Đại đội phó Đại đội 12, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 1, Sư đoàn 9.
Từ tháng 6 năm 1968 đến tháng 2 năm 1969, ông là Chính trị viên phó Đại đội 12, Tiểu đoàn 3; Chính trị viên Đại đội 6, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 1, Sư đoàn 9.
Từ tháng 3 năm 1969 đến tháng 4 năm 1971, ông là Chính trị viên phó, Chính trị viên Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 1, Sư đoàn 9.
Từ tháng 5 năm 1971 đến tháng 5 năm 1973, ông giữ cương vị Phó Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn 1, Sư đoàn 9.
Từ tháng 6 năm 1973 đến tháng 12 năm 1973, ông là Phó Chính uỷ kiêm Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn 1, Sư đoàn 9.
Từ tháng 1 năm 1974 đến tháng 11 năm 1977, ông là Chính uỷ Trung đoàn 1, Sư đoàn 9, Quân đoàn 4.
Từ tháng 12 năm 1977 đến tháng 7 năm 1978, ông học văn hoá tại Trường Văn hoá Bộ Quốc phòng.
Từ tháng 8 năm 1978 đến tháng 7 năm 1980, ông là học viên đào tạo tại Học viện Quân sự cao cấp (nay là Học viện Quốc phòng).
Từ tháng 8 năm 1980 đến tháng 3 năm 1983, ông là Phó Sư đoàn trưởng, Sư đoàn 9, Quân đoàn 4.
Từ tháng 4 năm 1983 đến tháng 3 năm 1987, ông là Phó Sư đoàn trưởng kiêm Tham mưu trưởng Sư đoàn 9, Quân đoàn 4. Học tiếng Nga tại Đại học Ngoại ngữ quân sự (từ tháng 4/1984 đến tháng 6/1986).
Từ tháng 4 năm 1987 đến tháng 1 năm 1988, ông là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 9, Quân đoàn 4.
Từ tháng 2 năm 1988 đến tháng 8 năm 1988, ông học tại Học viện Prumde, Liên Xô (tháng 5 năm 1988 đến tháng 7 năm 1989, Phó Tư lệnh thứ nhất Quân đoàn 4).
Từ tháng 8 năm 1989 đến tháng 8 năm 1990, ông học bổ túc lý luận chính trị cao cấp tại Học viện Chính trị – Quân sự (nay là Học viện Chính trị).
Tháng 3 năm 1990, ông được bổ nhiệm Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 7.
Từ tháng 9 năm 1991 đến tháng 7 năm 1995, ông giữ cương vị Tư lệnh Quân đoàn 4.
Từ tháng 8 năm 1995 đến tháng 11 năm 1997, ông là Tư lệnh Quân khu 7.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (tháng 7/1996), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Từ tháng 12 năm 1997 đến tháng 7 năm 1998, ông là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.
Tháng 8 năm 1998, ông được bổ nhiệm giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.
Tháng 9 năm 1998, ông là Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (tháng 4/2001), ông được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu vào Ban Bí thư.
Tháng 5 năm 2001, ông giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (tháng 4/2006), ông tiếp tục được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Ban Chấp hành Trung ương Đảng tiếp tục bầu vào Ban Bí thư.
Ông được Đảng, Nhà nước thăng quân hàm Thiếu tướng (năm 1989), Trung tướng (năm 1998), Thượng tướng (năm 2003), Đại tướng (năm 2007).
Năm 2011, Đại tướng Lê Văn Dũng được Đảng, Nhà nước quyết định nghỉ hưu theo chế độ.
Đại tướng Lê Văn Dũng là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, khóa IX, khóa X; Bí thư Trung ương Đảng khóa IX, khóa X; Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương); đại biểu Quốc hội khóa XI, khóa XII.
Nguồn: https://dantri.com.vn/thoi-su/to-chuc-le-tang-dai-tuong-le-van-dung-voi-nghi-thuc-cap-nha-nuoc-20260111213107531.htm

