Chủ Nhật, Tháng tư 12, 2026
HomeThời SựTừ ngày 18.5, Chủ tịch UBND cấp xã được xử phạt luật...

Từ ngày 18.5, Chủ tịch UBND cấp xã được xử phạt luật sư thế nào?

Thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp xã, tỉnh và Sở Tư pháp đối với luật sư

Liên quan đến luật sư, Chính phủ vừa ban hành Nghị định 109 năm 2026 (có hiệu lực thi hành từ ngày 18.5) quy định chi tiết về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.

Cụ thể, Chủ tịch UBND cấp xã có quyền: phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 25 triệu đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp (gồm luật sư, công chứng, đấu giá tài sản, giám định tư pháp, trợ giúp pháp lý).

Giám đốc Sở Tư pháp có quyền: phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 40 triệu đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp.

Chủ tịch UBND cấp tỉnh có quyền: phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 50 triệu đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp.

Chủ tịch UBND cấp xã phạt luật sư như thế nào từ 18 . 5 . 2026? - Ảnh 1.

Từ ngày 18.5, có nhiều quy định mới liên quan đến việc xử lý hành chính luật sư

Theo đó, Chủ tịch UBND cấp xã, Giám đốc Sở Tư pháp và Chủ tịch UBND cấp tỉnh đều có quyền đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, giấy đăng ký hành nghề, thẻ tư vấn viên pháp luật, thẻ công chứng viên, thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lý.

Mức phạt cụ thể đối với từng hành vi

Điều 8 Nghị định 109 năm 2026 quy định về các hành vi vi phạm đối với hoạt động hành nghề luật sư, theo đó mức phạt tiền từ 1 triệu đến 40 triệu đồng. Cụ thể như sau:

Phạt tiền từ 1 – 3 triệu đồng đối với một trong các hành vi:

  • Không tham gia hoặc tham gia không đầy đủ nghĩa vụ bồi dưỡng bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ.
  • Thông báo không đúng thời hạn cho đoàn luật sư về việc đăng ký hành nghề, thay đổi nội dung đăng ký hành nghề.

Phạt tiền từ 3 – 7 triệu đồng:

  • Thông báo không đầy đủ cho khách hàng về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm nghề nghiệp của mình trong việc thực hiện dịch vụ pháp lý.
  • Không đăng ký thay đổi nội dung đăng ký hành nghề với cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc không thông báo cho đoàn luật sư về việc đăng ký hành nghề, thay đổi nội dung đăng ký hành nghề.

Phạt tiền từ 7 triệu đến 10 triệu đồng:

  • Cung cấp dịch vụ pháp lý cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác ngoài cơ quan, tổ chức mà luật sư đã ký hợp đồng lao động. Trường hợp được cơ quan nhà nước yêu cầu hoặc tham gia tố tụng trong vụ án hình sự theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, hoặc thực hiện trợ giúp pháp lý theo sự phân công của đoàn luật sư mà luật sư là thành viên, thì không bị xử lý theo quy định này.
  • Thành lập, hoặc tham gia thành lập từ hai tổ chức hành nghề luật sư trở lên.
  • Làm việc theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức khác bằng hình thức luật sư hành nghề với tư cách cá nhân ngoài tổ chức hành nghề luật sư mà luật sư đã thành lập, tham gia thành lập hoặc đã ký hợp đồng lao động.
  • Hành nghề luật sư không đúng hình thức hành nghề theo quy định.
  • Hành nghề luật sư với tư cách cá nhân mà không mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp trong trường hợp hợp đồng lao động có thỏa thuận.
  • Ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với khách hàng không thông qua tổ chức hành nghề luật sư hoặc không có văn bản ủy quyền của tổ chức hành nghề luật sư.

Hình thức xử phạt bổ sung: tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư, hoặc giấy phép hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam từ 1 – 3 tháng.

Phạt tiền từ 15 – 30 triệu đồng:

  • Xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Hình phạt bổ sung: tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư hoặc giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam từ 6 – 9 tháng.

Phạt tiền từ 20 – 30 triệu đồng:

  • Tự mình hoặc giúp khách hàng thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật nhằm trì hoãn, kéo dài thời gian hoặc gây khó khăn, cản trở hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan nhà nước khác.
  • Sách nhiễu khách hàng; nhận, đòi hỏi bất kỳ một khoản tiền, lợi ích khác ngoài khoản thù lao và chi phí đã thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ pháp lý; lừa dối khách hàng mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
  • Ứng xử, phát ngôn hoặc có hành vi làm ảnh hưởng đến hình ảnh, uy tín của nghề luật sư hoặc gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự…

Hình phạt bổ sung: tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư hoặc giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam từ 6 – 9 tháng.

Phạt tiền từ 30 – 40 triệu đồng:

  • Cung cấp hoặc hướng dẫn khách hàng cung cấp tài liệu, vật chứng giả, sai sự thật.
  • Xúi giục khách hàng khai sai sự thật hoặc xúi giục khách hàng khiếu nại, tố cáo trái pháp luật.
  • Tiết lộ thông tin về vụ việc, về khách hàng mà mình biết trong khi hành nghề, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác.
  • Móc nối, quan hệ với người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, cán bộ, công chức, viên chức để làm trái quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ, việc.
  • Tham gia lôi kéo, kích động, mua chuộc, cưỡng ép người khác tập trung đông người để gây rối trật tự công cộng, thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
  • Cung cấp dịch vụ pháp lý, hoạt động tư vấn pháp luật với danh nghĩa luật sư hoặc mạo danh luật sư để hành nghề luật sư; treo biển hiệu khi chưa được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư hoặc chưa gia nhập đoàn luật sư.
  • Thực hiện hoạt động dịch vụ pháp lý khác không đúng theo quy định tại điều 30 của luật Luật sư.

Hình thức phạt bổ sung: tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư hoặc giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam từ 6 – 9 tháng.

Nguồn: https://thanhnien.vn/tu-ngay-185-chu-tich-ubnd-cap-xa-duoc-xu-phat-luat-su-the-nao-185260412115229593.htm

ThanhNien Logo

Hello Mình là Cải

Theo dõi
Thông báo của
0 Góp ý
Mới nhất
Cũ nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận

Tin Nóng Hôm Nay