Hiện nay, trữ lượng gỗ của rừng tự nhiên Việt Nam ở nhiều nơi đã suy giảm từ 250m³/ha xuống chỉ còn 25m³/ha. Theo Giáo sư Nguyễn Ngọc Lung, tỷ lệ rừng giàu hiện nay còn rất ít, chủ yếu là rừng nghèo và rừng kiệt. Những loại rừng này có trữ lượng gỗ thấp, hệ sinh thái nghèo nàn và gần như mất đi năng lực giữ nước.
Một cánh rừng “rỗng ruột” như vậy, dù nhìn từ xa vẫn xanh, nhưng bên trong đã mất đi thảm mục, mất đi tầng cây bụi và mất đi khả năng giữ chân nước. Đó là lý do tại sao rừng vẫn còn đó, nhưng lũ quét vẫn cứ xảy ra.
Một nguyên nhân then chốt khiến “áo giáp xanh” chưa phát huy vai trò lá chắn là áp lực gia tăng từ quá trình phát triển kinh tế-xã hội. Trong một thập kỷ qua, đất rừng đã phải gồng mình “chia sẻ” cho các mục tiêu hạ tầng giao thông, thủy điện, khu công nghiệp và đô thị hóa. Không ít dự án được triển khai ngay tại khu vực miền núi, đầu nguồn – những “tử huyệt” phòng hộ.
Khi một cánh rừng bị chuyển mục đích sử dụng, dù tổng diện tích có thể được bù đắp bằng việc trồng rừng thay thế ở một địa phương khác, nhưng chức năng sinh thái tại chỗ gần như bị xóa sổ. Sự mất mát này không thể bù đắp bằng phép cộng trừ số liệu thuần túy. Một ha rừng trồng mới 3 năm tuổi tại một tỉnh khác không thể gánh vác trách nhiệm giữ nước đầu nguồn thay cho một ha rừng tự nhiên trăm năm tuổi đã bị san lấp để làm thủy điện hay khu nghỉ dưỡng.
Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho thấy, trong giai đoạn 2006-2013, khoảng 476.000ha đất có rừng đã được chuyển mục đích sử dụng sang các loại đất phi lâm nghiệp. Trong đó, khoảng 85-90% là rừng tự nhiên. Số liệu này được tổng hợp từ hệ thống theo dõi biến động rừng của Cục Kiểm lâm và trình bày trong các báo cáo chuyên ngành về quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp giai đoạn này.
Ông Nguyễn Thái Sơn (áo ngành bên phải), Phó trưởng phòng sử dụng và phát triển rừng, Chi cục kiểm lâm Thái nguyên, trao đổi với phóng viên báo Nhân Dân về công tác trồng rừng tại địa phương. (Ảnh: Ngọc Hoan)
Ông Nguyễn Thái Sơn (áo ngành bên phải), Phó trưởng phòng sử dụng và phát triển rừng, Chi cục kiểm lâm Thái nguyên, trao đổi với phóng viên báo Nhân Dân về công tác trồng rừng tại địa phương. (Ảnh: Ngọc Hoan)
Trong giai đoạn cao điểm phát triển thủy điện vừa và nhỏ, diện tích rừng bị chuyển đổi được ghi nhận là rất lớn. Theo các nghiên cứu độc lập của Trung tâm Phát triển Sáng tạo Xanh (GreenID), để tạo ra 1MW thủy điện vừa và nhỏ, trung bình cần chuyển đổi khoảng 10-30ha đất rừng, bao gồm diện tích lòng hồ, hành lang tuyến năng lượng, đường thi công, bãi thải và các hạng mục hạ tầng phụ trợ.
Từ thống kê các dự án đã và đang vận hành, hiện cả nước có hơn 230 công trình thủy điện vừa và nhỏ, với tổng công suất ước khoảng 6.900-7.000MW. Theo cách tính này, diện tích rừng bị chuyển đổi phục vụ phát triển thủy điện vừa và nhỏ ước tính lên tới khoảng 70.000-210.000ha, chủ yếu tập trung tại các khu vực rừng đầu nguồn.
Bên cạnh các dự án phát triển, áp lực chuyển đổi đất rừng sang mục đích sản xuất nông nghiệp ở vùng sâu, vùng xa vẫn diễn ra phức tạp tại nhiều địa phương. Theo tổng hợp báo cáo của lực lượng kiểm lâm, năm 2024, cả nước ghi nhận gần 3.000 vụ việc liên quan đến phá rừng trái phép và cháy rừng, làm thiệt hại trên 1.000ha rừng. Riêng tại khu vực Tây Nguyên và Duyên hải Nam Trung Bộ, các báo cáo chuyên đề của ngành kiểm lâm cho thấy số vụ vi phạm lâm luật vẫn ở mức cao, tập trung tại các vùng giáp ranh, địa hình phức tạp, nơi công tác quản lý và kiểm soát gặp nhiều khó khăn.
Từ năm 2016, Chính phủ đã ban hành chủ trương đóng cửa rừng tự nhiên, tiếp đó là Luật Lâm nghiệp 2017, cùng nhiều chỉ đạo yêu cầu rà soát, dừng hoặc điều chỉnh các dự án có chuyển đổi mục đích sử dụng rừng tự nhiên. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, khung pháp lý vẫn chưa đủ để triệt tiêu hoàn toàn áp lực lên rừng, khi khoảng cách giữa quy định trên giấy và năng lực giám sát tại cơ sở, vẫn đang là một thách thức lớn trong công tác bảo vệ rừng tự nhiên.
Nguồn: https://nhandan.vn/special/rung-viet-nam-2/index.html

