
Một dự án giao dịch tài sản mã hóa quảng cáo tại một triển lãm ứng dụng công nghệ blockchain ở Việt Nam – Ảnh: ĐỨC THIỆN
Nhiều chuyên gia đã đề xuất như vậy khi góp ý cho dự thảo nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài sản mã hóa đang được Ủy ban Chứng khoán nhà nước (Bộ Tài chính) đưa ra lấy ý kiến.
Ngoài ra, theo các chuyên gia, cần có cơ chế làm rõ trách nhiệm những dự án được lập ra để huy động hàng triệu USD rồi “rút thảm” – thuật ngữ chỉ hành vi chủ dự án hoặc đội ngũ sáng lập huy động vốn từ nhà đầu tư rồi đột ngột rút toàn bộ hoặc phần lớn nguồn vốn, ngừng triển khai dự án, gây thiệt hại cho nhà đầu tư.
Tăng mức phạt mới đủ răn đe…

Trong văn bản gửi tới cơ quan soạn thảo dự thảo, Bộ Công an đã đề nghị xem xét tăng mức phạt từ 10 đến 30 triệu đồng lên mức từ 30 đến 50 triệu đồng để đủ mức răn đe, cảnh cáo nhà đầu tư trong nước cố tình vi phạm.
Trao đổi với Tuổi Trẻ, bà Jlo Trần, đồng sáng lập kiêm CEO Học viện đào tạo Web3 và blockchain tại Việt Nam VBI Academy, cho rằng thực tế thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam có thể thấy quy mô giao dịch của nhà đầu tư cá nhân rất đa dạng, từ vài triệu cho đến hàng trăm triệu đồng, thậm chí hàng tỉ đồng mỗi giao dịch.
Vì vậy, mức phạt 10-30 triệu đồng sẽ tạo ra tác động rất khác nhau giữa các nhóm nhà đầu tư. Với những giao dịch nhỏ, mang tính thử nghiệm hoặc đầu tư cá nhân quy mô thấp, mức phạt này là tương đối lớn, thậm chí trong một số trường hợp còn cao hơn cả lợi nhuận kỳ vọng.
Tuy nhiên, với các nhà đầu tư giao dịch thường xuyên hoặc quy mô lớn, khi giá trị mỗi giao dịch lên tới hàng trăm triệu hay hàng tỉ đồng, mức phạt cố định 10-30 triệu đồng không tỉ lệ thuận với quy mô dòng tiền và lợi ích kinh tế thu được, theo bà Jlo Trần.
“Khi mức phạt không tăng theo quy mô giao dịch, không loại trừ khả năng một bộ phận nhà đầu tư coi tiền phạt như một dạng chi phí giao dịch, đặc biệt là những người có lợi nhuận cao và sẵn sàng chấp nhận rủi ro pháp lý”, bà Jlo Trần nhận xét.
Trong khi đó, đại diện Công ty CP Công nghệ số SSI (SSI Digital – SSID) đề nghị mức phạt tiền tối đa phải bằng với mức phạt tiền trong lĩnh vực chứng khoán. Bởi xét về tính chất giao dịch, giá trị giao dịch và mục đích của giao dịch, tài sản mã hóa tương đương với chứng khoán.
Theo một chuyên gia lĩnh vực tiền mã hóa, sau khi dự thảo nghị định được thông qua, không gian “vùng xám” pháp lý đối với hoạt động giao dịch tài sản mã hóa của nhà đầu tư cá nhân sẽ tiếp tục thu hẹp. Khi đó, rủi ro pháp lý cần được tính đến cùng với rủi ro thị trường và rủi ro công nghệ.
Nhà đầu tư cần đặc biệt lưu ý theo dõi danh sách các tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa được Bộ Tài chính cấp phép, thận trọng khi giao dịch qua các kênh không rõ địa vị pháp lý, đồng thời chủ động lưu trữ lịch sử giao dịch, chứng từ nguồn tiền và các thông tin liên quan.
“Việc tuân thủ sớm không chỉ giúp giảm thiểu rủi ro bị xử phạt hành chính, mà còn giúp nhà đầu tư thích ứng tốt hơn khi cơ chế quản lý tiếp tục được hoàn thiện và siết chặt trong tương lai”, vị này khuyến cáo.

Hàng triệu người dùng Việt đang sở hữu tiền mã hóa – Ảnh: AI
Xử lý hình sự, tịch thu tài sản vi phạm?
Cũng theo đại diện SSI Digital, ngoài mức phạt tiền, cần xem xét bổ sung hình thức xử phạt vi phạm hành chính là tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm đối với các nhà đầu tư cố ý vi phạm quy định về giao dịch tài sản mã hóa trong trường hợp mức phạt tiền không đủ tính răn đe.
“Giao dịch tài sản mã hóa đang trong giai đoạn thí điểm, quy định xử phạt cần nghiêm khắc để hạn chế việc lợi dụng các kẽ hở của pháp luật”, vị này nói.
Một lãnh đạo Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam cũng ủng hộ đề xuất bổ sung hình thức tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm hành chính, trong đó bao gồm tài sản mã hóa và tài sản số.
Theo vị này, dự thảo còn thiếu quy định về hình thức tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng trong vi phạm hành chính, đặc biệt đối với các loại tài sản số. Khác với tài sản vật chất truyền thống, tài sản số không tồn tại dưới dạng hữu hình mà được thể hiện thông qua các mã hóa kỹ thuật số.
“Do đó, việc áp dụng biện pháp tịch thu tang vật đối với tài sản số cần được quy định cụ thể về phương thức thực hiện trên nền tảng số, bảo đảm tính khả thi trong quá trình áp dụng”, vị này đề xuất.
LS Võ Trung Tín – Phó chủ tịch Chi hội Blockchain TP.HCM – cũng cho rằng ngoài mức phạt tiền, cần quy định thêm các hình phạt bổ sung nhằm khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm gây ra.
Theo đó, việc buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được hoặc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái pháp luật sẽ là một hình phạt bổ sung cho trường hợp này.
Với những hành vi vi phạm hành chính đã bị xử phạt nhiều lần, tùy vào tính chất mà sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. “Do đó, các hành vi cố ý vi phạm, giao dịch trái phép nhiều lần liên quan đến tài sản số có thể bị xem xét bổ sung thành hành vi phạm tội để truy cứu thành trách nhiệm hình sự”, ông Tín đề xuất.
Tuy nhiên theo bà Jlo Trần, blockchain cho phép truy vết dòng giao dịch, nhưng lại không gắn trực tiếp với danh tính pháp lý của người dùng. “Do đó, việc xác định chủ thể giao dịch, mục đích giao dịch và mối liên hệ với hành vi vi phạm cụ thể đòi hỏi sự kết hợp phức tạp giữa dữ liệu công nghệ, dòng tiền và thông tin định danh”, bà Jlo Trần nói.

Không dễ truy vết, xác định vi phạm
Theo bà Jlo Trần, về mặt nguyên tắc, cơ quan chức năng có nhiều công cụ để xác định hành vi giao dịch tài sản mã hóa không thông qua tổ chức được cấp phép. Đơn cử như theo dõi dòng tiền qua hệ thống ngân hàng, cơ chế phòng chống rửa tiền, nghĩa vụ báo cáo của các tổ chức cung cấp dịch vụ trong nước, hoặc hợp tác trao đổi thông tin với cơ quan quản lý nước ngoài.
“Tuy nhiên trên thực tế, việc triển khai không hề đơn giản bởi đặc thù lớn nhất của thị trường tài sản mã hóa là tính phi tập trung và xuyên biên giới”, bà Jlo Trần nói và cho biết nhiều giao dịch được thực hiện trên các sàn quốc tế không có pháp nhân tại Việt Nam, hoặc thông qua hình thức P2P, OTC, thậm chí là các giao thức phi tập trung.
Nhà đầu tư nên làm gì?
Theo các chuyên gia, trong giai đoạn chuyển tiếp, khi khung pháp lý về tài sản mã hóa vẫn đang được hoàn thiện, cách tiếp cận phù hợp là ưu tiên thận trọng và quản trị rủi ro, thay vì mở rộng hoạt động đầu tư.
Việc hạn chế giao dịch với tần suất cao, tránh mở rộng quy mô đầu tư mới và ưu tiên nắm giữ các tài sản đã có là những lựa chọn hợp lý trong bối cảnh chính sách chưa thực sự rõ ràng. Nhà đầu tư cũng có thể cân nhắc đa dạng hóa danh mục sang các kênh đầu tư hợp pháp khác để phân tán rủi ro.
“Việc điều chỉnh hành vi theo hướng tuân thủ ngay từ sớm sẽ giúp nhà đầu tư thích ứng tốt hơn khi khung pháp lý chính thức được ban hành và thị trường bước vào giai đoạn quản lý đầy đủ hơn”, một chuyên gia nói.
Tăng cường chế tài đối với giao dịch OTC
Theo các chuyên gia, thực tiễn cho thấy nhiều tổ chức, cá nhân thực hiện các giao dịch có giá trị lớn thông qua tin nhắn riêng hoặc các nhóm kín, hình thành thị trường giao dịch phi chính thức (chợ đen), giao dịch OTC (mua bán tài sản ngoài các sàn giao dịch tập trung)… nhằm né tránh sự giám sát và quản lý của cơ quan có thẩm quyền.
Để bảo đảm tính minh bạch, công khai và tuân thủ pháp luật trong hoạt động giao dịch, cần thiết phải quy định các chế tài xử phạt nghiêm khắc đối với hành vi giao dịch tài sản không hợp pháp, không thực hiện thông qua các sàn giao dịch được Nhà nước cấp phép.
Việc áp dụng chế tài đủ mạnh sẽ góp phần định hướng dòng tiền tập trung về các sàn giao dịch hợp pháp, tạo điều kiện cho Nhà nước thực hiện công tác quản lý, thu thuế và kiểm soát đầy đủ thông tin về chủ thể tham gia, đối tượng giao dịch và quy mô giao dịch.
Theo đó, đề xuất áp dụng mức xử phạt vi phạm hành chính ở mức cao nhất, đồng thời xem xét trách nhiệm hình sự đối với các cá nhân, tổ chức cố tình tổ chức hoặc tham gia giao dịch quy mô lớn trên thị trường ngoài phạm vi quản lý (OTC, chợ đen) nhằm mục đích trốn thuế hoặc rửa tiền.
Đồng thời, khuyến khích và bảo vệ người dùng thực hiện giao dịch tại các sàn giao dịch đã đăng ký và tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật Việt Nam.
“Rút thảm” dự án tiền mã hóa: founder không thể vô can
Theo các chuyên gia, tại Việt Nam đã xảy ra nhiều trường hợp chủ dự án (founder) huy động vốn từ cộng đồng với quy mô lên tới hàng triệu USD, sau đó bỏ trốn hoặc tuyên bố dự án thất bại (rút thảm – rug pull), gây thiệt hại nghiêm trọng cho nhà đầu tư.
Tuy nhiên, nghị quyết số 05 của Chính phủ chưa có quy định cụ thể về trách nhiệm pháp lý của đội ngũ sáng lập dự án. Do vậy, cần xem xét đội ngũ sáng lập dự án tương tự như chủ doanh nghiệp hoặc người quản lý doanh nghiệp để có những quy định chế tài phù hợp.
“Đội ngũ sáng lập phải chịu trách nhiệm pháp lý đầy đủ đối với tính minh bạch, công bằng và hiệu quả của dự án, tương tự như trách nhiệm của giám đốc hoặc chủ tịch hội đồng quản trị trong doanh nghiệp”, một lãnh đạo SSI Digital nói và đề xuất bổ sung định nghĩa pháp lý về “đội ngũ sáng lập dự án (founder team)” trong các văn bản quy phạm pháp luật.
Theo đó, đội ngũ sáng lập dự án là các cá nhân hoặc tổ chức trực tiếp khởi xướng, quản lý, điều hành dự án… phải chịu trách nhiệm liên đới đối với mọi hành vi vi phạm pháp luật phát sinh trong quá trình huy động vốn và triển khai dự án. Bên cạnh đó, cần quy định rõ trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hình sự đối với đội ngũ sáng lập dự án.
Trường hợp dự án có dấu hiệu giao dịch không công bằng (unfair trading), bỏ bê hoặc chấm dứt hoạt động dự án sau khi đã huy động vốn, hoặc vi phạm các cam kết pháp lý đã công bố, đội ngũ sáng lập phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Các hình thức xử lý bao gồm nghĩa vụ bồi thường toàn bộ thiệt hại cho nhà đầu tư theo trách nhiệm dân sự và áp dụng các chế tài hình sự tương ứng đối với hành vi gian dối, lừa đảo hoặc chiếm đoạt vốn của nhà đầu tư.
Tài sản mã hóa từ ‘vùng xám’ sang ‘vùng sáng’
Đọc tiếp
Về trang Chủ đề
Nguồn: https://tuoitre.vn/vi-pham-trong-giao-dich-tai-san-ma-hoa-de-xuat-them-bien-phap-xu-ly-hinh-su-20260114075025176.htm

