Trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động nhanh, phức tạp, khó lường, nội lực còn những độ trễ lớn, câu hỏi đặt ra không chỉ là “có nên” tăng trưởng 2 con số, mà là nền kinh tế đã đủ năng lực để tăng trưởng nhanh mà không lệch pha, không phát triển nóng và không đánh đổi ổn định dài hạn hay chưa.

Nâng cao nguồn nhân lực gắn với khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là một trong những chìa khóa để phát triển nhanh và bền vững
Tăng trưởng cao – yêu cầu khách quan của giai đoạn phát triển mới
Bước vào giai đoạn phát triển mới, tăng trưởng cao không còn là lựa chọn mang tính mong muốn, mà đã trở thành yêu cầu khách quan để Việt Nam tránh nguy cơ tụt hậu.
Đặt mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn 2026 – 2030 là lựa chọn mang tính chiến lược. Sau 4 thập niên đổi mới, nền kinh tế đã tích lũy được quy mô, độ mở, vị thế nhất định trong khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên, dư địa tăng trưởng truyền thống theo chiều rộng đang thu hẹp nhanh, trong khi cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt. Trong bối cảnh chuyển dịch chuỗi giá trị toàn cầu, bùng nổ công nghệ số và áp lực chuyển đổi xanh, nếu không duy trì tốc độ tăng trưởng đủ cao, Việt Nam rất dễ rơi vào quỹ đạo tăng trưởng trung bình kéo dài, bỏ lỡ cơ hội phát triển.
Vì vậy, đặt mục tiêu tăng trưởng 2 con số, không chỉ thể hiện khát vọng, mà còn phản ánh yêu cầu khách quan của giai đoạn phát triển mới – giai đoạn đòi hỏi sự bứt phá về chất lượng và năng lực cạnh tranh. Không đặt mục tiêu cao đồng nghĩa với chấp nhận tụt lại phía sau.
Mục tiêu tăng trưởng cao chỉ có thể hiện thực hóa bền vững khi được đặt trong giới hạn chịu đựng của nền kinh tế, nơi năng suất lao động, chất lượng nguồn nhân lực, năng lực doanh nghiệp và hiệu quả thể chế đóng vai trò quyết định. Lịch sử phát triển của nhiều nền kinh tế cho thấy khi mục tiêu tăng trưởng vượt quá khả năng hấp thụ của nền kinh tế, tăng trưởng dễ trở thành áp lực hơn là động lực.
Mặc dù kinh tế nước ta đã đạt nhiều thành tựu, nhưng nền tảng tăng trưởng vẫn bộc lộ không ít điểm yếu. Năng suất lao động cải thiện chậm; đóng góp của khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa thực sự trở thành động lực trung tâm; hiệu quả phân bổ nguồn lực còn hạn chế, thị trường vốn dài hạn phát triển chưa tương xứng với nhu cầu. Nếu các điểm nghẽn này không được xử lý căn cơ, tăng trưởng cao rất dễ bị “kéo” bằng đầu tư dàn trải, tín dụng mở rộng, khai thác tài nguyên – những động lực ngắn hạn, tiềm ẩn rủi ro dài hạn. Mục tiêu càng cao, yêu cầu về năng lực của nền kinh tế càng khắt khe.
Thực tiễn phát triển cho thấy khi tốc độ tăng trưởng bị đẩy nhanh hơn năng lực quản trị và khả năng hấp thụ của nền kinh tế, nguy cơ lệch pha, phát triển nóng và tích tụ rủi ro là điều khó tránh khỏi. Lệch pha không chỉ thể hiện ở mất cân đối vĩ mô, mà còn ở chất lượng tăng trưởng thấp, tăng nhanh nhưng không tạo ra giá trị gia tăng cao, không nâng được năng suất và sức cạnh tranh dài hạn của nền kinh tế.
Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiềm ẩn nhiều bất định, việc theo đuổi tăng trưởng bằng mọi giá có thể khiến nền kinh tế phải trả giá bằng những cú điều chỉnh không mong muốn trong trung hạn, thậm chí đối mặt với suy thoái kinh tế. Tăng trưởng cao nhưng thiếu kiểm soát sẽ làm suy yếu nền tảng phát triển.
Để tránh những rủi ro phát sinh trong quá trình theo đuổi tăng trưởng cao, điều quan trọng trước hết là phải nhận diện đầy đủ, thẳng thắn các độ trễ về năng lực đang tồn tại trong nền kinh tế.
Trước hết là độ trễ về nguồn nhân lực chất lượng cao. Khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu thực tiễn của nền kinh tế số, kinh tế tri thức còn lớn; kỹ năng công nghệ, quản trị hiện đại và tư duy đổi mới sáng tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh. Tiếp đến là độ trễ của khu vực doanh nghiệp trong nước. Phần lớn doanh nghiệp có quy mô nhỏ, vốn mỏng, năng suất thấp; năng lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu còn hạn chế. Khoảng cách về trình độ công nghệ và quản trị giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI chưa được thu hẹp đáng kể.
Bên cạnh đó là độ trễ về thể chế và thị trường. Môi trường kinh doanh còn đối mặt với chi phí tuân thủ cao; rủi ro pháp lý khiến doanh nghiệp e ngại mở rộng đầu tư, tạo ra nghịch lý “doanh nghiệp không muốn lớn”; thị trường vốn chưa thực sự trở thành kênh dẫn vốn trung và dài hạn hiệu quả. Không nhận diện đúng độ trễ, mọi mục tiêu đều có nguy cơ chỉ dừng ở khẩu hiệu.
Tăng trưởng cao gắn với nâng cấp nền tảng
Trên cơ sở nhận diện đúng những điểm nghẽn về năng lực, Dự thảo Báo cáo Đại hội XIV đã xác lập hệ thống phương hướng, nhiệm vụ nhằm bảo đảm tăng trưởng cao nhưng không đánh đổi ổn định, hiệu quả và bền vững dài hạn.
Điểm nhấn xuyên suốt là phát triển nhanh nhưng phải bền vững; tăng trưởng cao phải dựa trên nền tảng nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế. Trọng tâm là tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường hiện đại; nâng cao năng suất, sức cạnh tranh; phát triển mạnh khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo; tái cơ cấu mô hình tăng trưởng theo chiều sâu; phát triển doanh nghiệp trong nước trở thành trụ cột; giữ vững ổn định vĩ mô và an toàn hệ thống.
Cách tiếp cận này cho thấy sự chuyển dịch rõ rệt từ tư duy tăng trưởng dựa vào mở rộng quy mô sang tư duy tăng trưởng dựa vào chất lượng, hiệu quả và khả năng chống chịu. Phương hướng đúng là nền tảng để tránh lệch pha phát triển.
Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 2 con số, cần thống nhất những thông điệp cốt lõi làm cơ sở định hướng tư duy và hành động trong toàn bộ quá trình tổ chức thực hiện, đó là: “Tăng trưởng 2 con số là mục tiêu chiến lược, không phải mệnh lệnh hành chính; năng lực nội sinh quyết định trần tăng trưởng; tăng trưởng cao phải được neo bằng ổn định vĩ mô; cải cách thể chế là giải pháp số một, không có giải pháp thay thế; tránh lệch pha bằng tái cấu trúc động lực tăng trưởng; doanh nghiệp trong nước phải trở thành chủ thể trung tâm của tăng trưởng; phát triển thị trường vốn dài hạn để giảm rủi ro tài chính; ý chí cải cách là thước đo thực chất của quyết tâm tăng trưởng”.
Tám thông điệp cốt lõi nêu trên có vai trò định hướng tư duy và hành động, bảo đảm mục tiêu tăng trưởng cao giai đoạn 2026 – 2030 được triển khai nhất quán, hiệu quả và bền vững.
Biến khát vọng thành năng lực thực thi
Vấn đề then chốt nằm ở giải pháp thực hiện. Giải pháp phải đủ mạnh để biến quyết tâm chính trị thành kết quả thực tế. Để hiện thực hóa các mục tiêu phát triển, cần triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp trọng tâm sau:
Trước hết cần đột phá cải cách thể chế và môi trường phát triển, tạo dựng nền thể chế bao trùm, môi trường đầu tư kinh doanh minh bạch, ổn định, giảm chi phí tuân thủ, khơi thông các nguồn lực đang bị đóng băng.
Cùng với đó, nâng cao năng suất, chất lượng nguồn nhân lực và đổi mới sáng tạo, gắn cải cách giáo dục đào tạo với nhu cầu của thị trường lao động, thúc đẩy mạnh mẽ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Đặc biệt, đẩy mạnh quá trình tái cơ cấu mô hình tăng trưởng theo hướng hiện đại, bền vững. Ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo hiện đại, kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tri thức; nâng cao hiệu quả đầu tư công, kiểm soát rủi ro từ phát triển nóng.
Phát triển khu vực doanh nghiệp trong nước và thị trường vốn, giúp doanh nghiệp nâng cấp năng lực, giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Cuối cùng, giữ vững ổn định vĩ mô và nâng cao năng lực điều hành, bảo đảm kỷ luật tài khóa tiền tệ, nâng cao chất lượng dự báo và quản trị rủi ro.
Tăng trưởng 2 con số là khát vọng chính đáng và cần thiết trong giai đoạn phát triển mới, nhưng không thể tách rời năng lực thực chất của nền kinh tế. Hiện thực hóa mục tiêu phát triển đến năm 2030, tầm nhìn 2045 đòi hỏi tư duy phát triển tỉnh táo, năng động, nhận diện đúng các độ trễ, cải cách thể chế quyết liệt, nâng cao năng suất và sức cạnh tranh nội sinh, giữ vững ổn định vĩ mô.
Chỉ khi khát vọng đi đôi với năng lực và kỷ luật phát triển, tăng trưởng cao mới trở thành động lực bền vững đưa đất nước bứt phá.
Nguồn: https://thanhnien.vn/hien-thuc-hoa-muc-tieu-tang-truong-cao-bai-toan-nang-luc-va-phat-trien-ben-vung-185260120215508105.htm

