Theo khảo sát của phóng viên Dân trí, biểu lãi suất huy động trực tuyến tại các ngân hàng vào ngày 26/1 cho thấy sự phân hóa rõ nét giữa nhóm ngân hàng quốc doanh và khối ngân hàng thương mại cổ phần.
Ở kỳ hạn 1 tháng, mặt bằng lãi suất phổ biến tại nhiều ngân hàng thương mại cổ phần dao động quanh 4-4,75%/năm. Nhóm ngân hàng như MBV, PGBank, Techcombank, Bac A Bank, OCB, VIB, VPBank, TPBank đồng loạt niêm yết mức 4,75%/năm, cho thấy sự cạnh tranh nhất định ở kỳ hạn ngắn.
Trong khi đó, các ngân hàng quốc doanh tiếp tục duy trì mức thấp hơn đáng kể, với Agribank, BIDV và VietinBank ở mức 3%/năm, còn Vietcombank chỉ 2,1%/năm – thấp nhất nhóm big 4 (4 ngân hàng có vốn Nhà nước). Riêng SCB áp dụng mức lãi suất chỉ 1,6%/năm.
Sang kỳ hạn 3 tháng, lãi suất nhìn chung nhích nhẹ so với kỳ hạn 1 tháng nhưng không tạo ra đột biến. Phần lớn ngân hàng niêm yết quanh 4,75%/năm, tiếp tục là mức trần phổ biến của nhóm ngân hàng cổ phần.
Một số ngân hàng như ABBank, HDBank, MSB giữ lãi suất tiền gửi thấp hơn mặt bằng chung, dao động từ 4,1-4,3%/năm. Nhóm ngân hàng quốc doanh vẫn giữ khoảng cách khá xa với mặt bằng thị trường khi Vietcombank chỉ ở mức 2,4%/năm, BIDV và VietinBank quanh 3,4%/năm, Agribank là 3,5%/năm.
*Biểu lãi suất tiết kiệm của các ngân hàng (đơn vị: %/năm)
| Ngân hàng | 1 tháng | 6 tháng | 9 tháng | 12 tháng |
| MBV | 4,6 | 6,5 | 6,5 | 7,2 |
| OCB | 4,75 | 6,4 | 6,4 | 6,7 |
| ABBank | 4 | 6,5 | 6,5 | 6,5 |
| VIB | 4,75 | 5,7 | 5,8 | 6,5 |
| LPBank | 4,5 | 6,2 | 6,3 | 6,3 |
| HDBank | 4,2 | 5,5 | 5,3 | 5,8 |
| MSB | 4,1 | 5,2 | 5,2 | 5,8 |
| SHB | 4,2 | 5,6 | 5,6 | 5,8 |
| MB | 4,5 | 5,3 | 5,3 | 5,55 |
Tại kỳ hạn 6 tháng, bức tranh lãi suất trở nên phân hóa mạnh mẽ. Đây là kỳ hạn ghi nhận mức lãi suất cao rõ rệt ở nhiều ngân hàng quy mô nhỏ và vừa. PGBank dẫn đầu với 7,1%/năm, Bac A Bank theo sát với 7%/năm, Techcombank đạt 6,85%/năm. Một loạt ngân hàng khác như MBV, Vikki Bank, ABBank duy trì mức 6,5%/năm.
Trong khi đó, các ngân hàng lớn chỉ niêm yết từ 4,5-5%/năm, cho thấy sự chênh lệch lên tới hơn 2 điểm phần trăm, phản ánh nhu cầu huy động vốn trung hạn lớn từ nhóm ngân hàng nhỏ.
Ở kỳ hạn 9 tháng, PGBank vẫn giữ vị trí cao nhất với 7,1%/năm, Bac A Bank ở mức 7%/năm, Techcombank 6,85%/năm. Nhiều ngân hàng khác giữ lãi suất quanh 6,2-6,5%/năm. Đáng chú ý, một số ngân hàng như VCBNeo, Kienlongbank niêm yết lãi suất 9 tháng thấp hơn cả kỳ hạn 6 tháng. Nhóm ngân hàng quốc doanh vẫn neo ở mức thấp, phổ biến 4,5-5%/năm.
Kiểm tra giao dịch tiền tại ngân hàng (Ảnh: Mạnh Quân).
Đối với kỳ hạn 12 tháng, mặt bằng lãi suất được đẩy lên mức cao nhất trong toàn bộ các kỳ hạn. MBV và PGBank cùng áp dụng mức 7,2%/năm, cao nhất thị trường. Bac A Bank đạt 7,05%/năm, Techcombank 6,95%/năm, OCB 6,7%/năm. Phần lớn ngân hàng thương mại cổ phần khác niêm yết trong khoảng 5,7-6,5%/năm. Trái lại, Vietcombank, BIDV, VietinBank và Agribank chỉ dao động quanh 5,2-5,3%/năm, thấp hơn nhóm dẫn đầu gần 2 điểm phần trăm.
Tại kỳ hạn 18 tháng, lãi suất không còn tăng mạnh so với kỳ hạn 12 tháng và thậm chí có xu hướng đi ngang hoặc giảm nhẹ tại một số ngân hàng. Mức cao nhất vẫn thuộc về MBV và Bac A Bank với khoảng 7,1-7,2%/năm.
Theo thống kê, từ đầu tháng 1, có 14 ngân hàng thay đổi lãi suất huy động. Trong đó, VPBank, MSB, ABBank, Bac A Bank, LPBank, VCBNeo, BaoViet Bank, MBV, Sacombank, VIB, Saigonbank tăng lãi suất huy động. Có 2 đơn vị giảm lãi suất là ACB, PGBank.
Nguồn: https://dantri.com.vn/kinh-doanh/lai-suat-tang-lien-tuc-co-tien-nen-gui-ngan-hang-nao-20260125221640237.htm

