Thứ bảy, Tháng hai 14, 2026
HomeThời SựChân dung 7 tướng lĩnh vừa nhận danh hiệu Anh hùng Lực...

Chân dung 7 tướng lĩnh vừa nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân

7 tướng lĩnh được phong tặng, truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân gồm:

1. Trung tướng Lưu Phước Lượng (sinh năm 1948, quê tỉnh Bình Dương cũ, nay là TP.HCM), nguyên Phó ban Chỉ đạo Tây Nam bộ, nguyên Phó tư lệnh về Chính trị Quân khu 9, nguyên Tiểu đội bậc trưởng – Đài trưởng K63 (Vô tuyến điện thoại), Tiểu đoàn 42, Thông tin miền B2.

 - Ảnh 1.

Trung tướng Lưu Phước Lượng

Năm 1965, ông tham gia cách mạng trong biên chế Tiểu đoàn 42 thông tin, trực thuộc Ban Thông tin miền. Trong những năm 1967 – 1968, trên cương vị chiến sĩ vô tuyến điện, ông đã trực tiếp chiến đấu, giữ vững mạch liên lạc giữa các đơn vị trong điều kiện bom đạn ác liệt, từng được tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ.

Trong đợt 2 tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 ở hướng bắc Sài Gòn, tổ đài K63 do ông phụ trách rơi vào tình thế đặc biệt hiểm nghèo khi nhiều cán bộ chủ chốt hy sinh. Giữa lằn ranh sinh tử, ông vẫn giữ vững khí tiết, phát đi bức điện cuối cùng thể hiện quyết tâm “sẵn sàng chiến đấu đến hơi thở cuối cùng”, trở thành biểu tượng về lòng trung kiên của người chiến sĩ thông tin. Cùng đó, trung tướng Lưu Phước Lượng cùng bộ đội tình nguyện Việt Nam tại Campuchia đã trải qua 10 năm chiến đấu gian khổ, ác liệt.

2. Trung tướng Lê Thành Tâm (sinh năm 1942, quê xã Tân Bình, H.Phụng Hiệp, Cần Thơ, nay thuộc tỉnh Hậu Giang), nguyên Phó tư lệnh Chính trị Quân khu 7, nguyên Phó sư đoàn trưởng Chính trị Sư đoàn 5, nguyên Chính trị viên Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 3, Sư đoàn 9, Quân đoàn 4 (nay là Quân đoàn 34).

 - Ảnh 2.

Trung tướng Lê Thành Tâm

Trung tướng Tâm trưởng thành từ vùng quê giàu truyền thống cách mạng, có bố là chiến sĩ Vệ quốc đoàn. Năm 1957, khi mới 15 tuổi, ông tham gia cách mạng làm giao liên; đầu năm 1959 nhập ngũ, trở thành bộ đội địa phương. 

Từ những năm 1960, ông lần lượt đảm nhiệm nhiều cương vị: tiểu đội trưởng, trung đội phó, chính trị viên, rồi chính trị viên phó Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 3, Sư đoàn 9. Ông cùng đơn vị tham gia nhiều trận đánh ác liệt, góp phần làm thay đổi cục diện chiến trường miền Nam.

Năm 1968, ông được cử đi học tại Học viện Chính trị; sau đó trở lại chiến trường và tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975. 

Sau ngày đất nước thống nhất, ông giữ nhiều chức vụ quan trọng tại Quân khu 7 như Trưởng phòng Huấn luyện, Chủ nhiệm Chính trị, Phó tư lệnh về Chính trị; được phong thiếu tướng (1994) và trung tướng (2002).

3. Thiếu tướng Trần Ngọc Thổ (78 tuổi, quê quán xã Tứ Dân, H.Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên; nay là xã Châu Ninh, tỉnh Hưng Yên), nguyên Tham mưu trưởng Quân khu 7, nguyên Đại đội trưởng, Đại đội 25, Trung đoàn 88, Sư đoàn 302.

 - Ảnh 3.

Thiếu tướng Trần Ngọc Thổ

Ông nhập ngũ khi mới 17 tuổi và được biên chế vào Tiểu đoàn 304, Trung đoàn 5, Sư đoàn 320, Quân khu 3. Sau 3 tháng huấn luyện, ông cùng đơn vị vào chiến trường miền Nam chiến đấu, biên chế về Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 88, Sư đoàn bộ binh 5, chiến đấu tại chiến trường Tây nguyên. Tiếp đó, ông được điều động bổ sung cho chiến trường Đông Nam bộ.

Suốt cuộc đời binh nghiệp, ông đã trực tiếp tham gia hàng trăm trận đánh lớn nhỏ trên khắp các chiến trường ác liệt. Ông đi qua kháng chiến chống Mỹ, trải qua những trận đánh trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, góp phần vào thắng lợi chung của dân tộc; tham gia làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc chiến trường biên giới Tây Nam.

Mỗi mặt trận là một thử thách mới, mỗi trận đánh là một lần đối diện ranh giới sống – chết. Ông bị thương 11 lần, mang trên mình 61% thương tật nhưng chưa một lần rời bỏ hàng ngũ.

Những năm xây dựng và phát triển đất nước, ông tiếp tục công tác trong quân đội, gắn bó với Quân khu 7, đảm nhiệm nhiều trọng trách quan trọng. Trên cương vị Tham mưu trưởng Quân khu 7, ông bước vào một “mặt trận” khác, nơi không còn tiếng súng, nhưng mỗi quyết định đều gắn liền với con người, với trách nhiệm và sự ổn định lâu dài của quân đội.

4. Trung tướng Nguyễn Thới Bưng (sinh năm 1927, tại  P.An Tịnh, Tây Ninh); nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, nguyên Tư lệnh Quân khu 7, nguyên Trưởng phòng Tác chiến Bộ tham mưu miền B2 (nay là Bộ tham mưu Quân khu 7).

 - Ảnh 4.

Trung tướng Nguyễn Thới Bưng (bên phải) và con trai là trung tướng Nguyễn Châu Thanh

Ông sớm giác ngộ cách mạng từ tuổi thiếu niên. Chứng kiến tinh thần bất khuất của những chiến sĩ Nam Kỳ bị thực dân Pháp xử bắn, ông nuôi chí đánh giặc cứu nước. Tháng 7.1945, ông tổ chức Thanh niên Tiền phong xã An Tịnh, tham gia giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám. Khi Pháp tái xâm lược, ông gia nhập lực lượng vũ trang, trực tiếp chiến đấu tại Mặt trận Suối Sâu và tham gia “Hội thề Rừng Rong”, đặt nền móng cho phong trào vũ trang địa phương.

Trong kháng chiến chống Pháp, ông lần lượt giữ các chức vụ từ tiểu đội trưởng đến đại đội trưởng, được kết nạp Đảng năm 1947. Sau 1954, ông tập kết ra Bắc, công tác tại Bộ tổng Tham mưu, rồi trở lại chiến trường miền Nam. Từ năm 1966 – 1973, trên cương vị Tư lệnh Sư đoàn 9, ông chỉ huy đơn vị lập nhiều chiến công ở miền Đông Nam bộ, góp phần đánh bại các cuộc hành quân lớn của địch.

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975, ông giữ trọng trách tại cơ quan tác chiến cấp chiến dịch. Sau giải phóng, ông đảm nhiệm nhiều cương vị quan trọng: Tham mưu trưởng, Tư lệnh Quân khu 7 và Quân khu 9, Phó tổng tham mưu trưởng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; được phong thiếu tướng (1983), trung tướng (1988). Năm 1999, ông nghỉ hưu theo chế độ.

Suốt hơn nửa thế kỷ quân ngũ, trung tướng Nguyễn Thới Bưng là vị tướng trưởng thành từ thực tiễn chiến trường, bản lĩnh, quyết đoán, tận tụy vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

5. Trung tướng Bùi Thanh Vân (sinh năm 1927, tại P.An Tịnh, Tây Ninh), nguyên Tư lệnh Quân khu 7, nguyên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 5.

 - Ảnh 5.

Trung tướng Bùi Thanh Vân

Ông xuất thân trong gia đình công nhân, sớm trải qua cuộc sống cơ cực tại đồn điền cao su Bến Cát. Từ thực tiễn bị bóc lột, ông giác ngộ cách mạng, tham gia đấu tranh đòi quyền lợi cho công nhân. Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, ông gia nhập lực lượng vũ trang Nam bộ, chiến đấu trên nhiều mặt trận ác liệt và được kết nạp vào Đảng năm 1948.

Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, ông kinh qua nhiều cương vị chỉ huy từ cấp đại đội đến trung đoàn, sư đoàn; tham gia các chiến dịch lớn như Bến Cát (1950), Tổng tiến công Tết Mậu Thân (1968), Chiến dịch Nguyễn Huệ (1972) và Chiến dịch Hồ Chí Minh (1975). 

Sau ngày đất nước thống nhất, ông giữ các chức vụ quan trọng: Phó tư lệnh Quân đoàn 4, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Tây Ninh, Phó tư lệnh – Tham mưu trưởng rồi Tư lệnh Quân khu 7 (1989 – 1994); được phong thiếu tướng năm 1980, trung tướng năm 1988.

Gần 50 năm quân ngũ, từ một công nhân cao su trở thành vị tướng lĩnh cao cấp, ông nổi bật với phong cách chỉ huy quyết liệt, thẳng thắn, nói đi đôi với làm; luôn chăm lo đời sống bộ đội, giữ nghiêm kỷ luật nhưng giàu tình nghĩa. Ông từ trần tháng 8.1994 khi đang đương chức Tư lệnh Quân khu 7.

6. Trung tướng Lê Nam Phong (sinh năm 1927, tên thật là Lê Hoàng Thống, quê tỉnh Nghệ An), nguyên Hiệu trưởng Trường Sĩ quan lục quân 2, nguyên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 7.

 - Ảnh 6.

Trung tướng Lê Nam Phong

Ông là cán bộ tiền khởi nghĩa. Năm 1954, trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ông Phong là Đại đội trưởng Trung đoàn 88, trực tiếp chỉ huy đơn vị “cạo trọc đầu” bám trụ trong hệ thống chiến hào, đánh chiếm cứ điểm đồi Độc Lập – một trong những vị trí then chốt của tập đoàn cứ điểm địch. Bản lĩnh chỉ huy, tinh thần xung kích, quyết đoán của người đại đội trưởng trẻ tuổi đã góp phần quan trọng làm nên thắng lợi lịch sử “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.

Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, trên cương vị Sư đoàn trưởng Sư đoàn 7, ông Phong cùng Bộ Tư lệnh Sư đoàn chỉ huy đơn vị chốt chặn suốt 150 ngày đêm tại Tàu Ô – Xóm Ruộng, tiếp đó phá tan cứ điểm Xuân Lộc – “cánh cửa thép” phía đông Sài Gòn. 

Chiến công ấy đã tạo thế, tạo lực để đại quân ta tiến vào giải phóng Sài Gòn, hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đó là trận đánh thể hiện tầm nhìn, nghệ thuật chỉ huy linh hoạt và ý chí “quyết chiến, quyết thắng” của một vị tướng trận mạc dày dạn kinh nghiệm.

7. Thiếu tướng Võ Minh Như (sinh năm 1926, xã Bảo Ninh, Quảng Bình nay là Quảng Trị), nguyên Phó tư lệnh Quân khu 7, nguyên Tư lệnh Sư đoàn 5, Bộ Tư lệnh miền (nay là Sư đoàn 5).

 - Ảnh 7.

Thiếu tướng Võ Minh Như (giữa)

Ông xuất thân trong gia đình nghèo, sớm vào Nam mưu sinh và giác ngộ cách mạng. Sau ngày 23.9.1945, ông tham gia tổ chức Thanh niên Tiền phong, vào Vệ quốc đoàn và được kết nạp Đảng.

Từ những năm đầu kháng chiến chống Pháp, ông lần lượt giữ các cương vị trung đội trưởng, đại đội trưởng, tiểu đoàn phó, chỉ huy nhiều trận đánh ở Biên Hòa, Gia Định, Thủ Biên, góp phần mở rộng hành lang và xây dựng lực lượng vũ trang miền Đông Nam bộ.

Tập kết ra Bắc năm 1954, ông tiếp tục học tập, công tác tại các sư đoàn chủ lực, rồi năm 1961 trở lại chiến trường miền Nam. Trên cương vị trung đoàn trưởng và sau đó là Tư lệnh Sư đoàn 5, ông chỉ huy đơn vị chiến đấu trên nhiều địa bàn ác liệt, đối đầu các sư đoàn chủ lực Mỹ – Ngụy, xây dựng Sư đoàn 5 trở thành đơn vị mạnh của miền.

Từ năm 1969, ông chuyển sang công tác đào tạo, làm Hiệu trưởng Trường Quân chính Trung – Cao cấp miền (H14), góp phần bồi dưỡng cán bộ cho chiến trường. Sau 1975, ông giữ các chức vụ quan trọng tại Quân khu 7 và Mặt trận 779, tham gia nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia; được phong thiếu tướng năm 1984.

Hơn 4 thập kỷ quân ngũ, thiếu tướng Võ Minh Như là người chỉ huy mưu lược, quyết đoán, giàu kinh nghiệm trận mạc và tâm huyết với công tác xây dựng lực lượng. Ông nghỉ hưu năm 1990.

Nguồn: https://thanhnien.vn/chan-dung-7-tuong-linh-vua-nhan-danh-hieu-anh-hung-luc-luong-vu-trang-nhan-dan-185260214081552043.htm

ThanhNien Logo

Hello Mình là Cải

Theo dõi
Thông báo của
0 Góp ý
Mới nhất
Cũ nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận

Tin Nóng Hôm Nay