1.
Dân tộc ta, tổ tiên chúng ta chưa bao giờ tự coi mình “nhược tiểu”. “Nhược tiểu” là do một bộ phận tự hạ thấp giống nòi mình, mà từ xưa đến nay đều có những người như vậy, gây ra một tâm lý lầm lẫn lớn.

Việt Nam chưa bao giờ là một quốc gia nhược tiểu, dù là trong quá khứ, hiện tại, hay tương lai
Hoàng đế Lê Hoàn (Lê Đại Hành) giữa lúc mệnh nước ngàn cân treo sợi tóc, đã dẹp yên nội loạn và đánh thắng giặc Tống. Kể từ cuộc chiến tranh vệ quốc của Hai Bà Trưng chống nhà Đông Hán, lấy lại 65 thành trì cho Lĩnh Nam ta, đây là lần thứ hai nước ta đương đầu và chiến thắng đội quân xâm lược hùng mạnh của một nước Trung Hoa thống nhất.
Ông là vị vua đầu tiên dựng “Hùng triều ngọc phả” để xác định nước ta có một nền độc lập lâu đời từ thời Hùng Vương, là vị vua biến Thánh Gióng từ một thổ thần làng Phù Đổng thành một quốc thần nhằm huy động toàn dân đánh giặc.
Lê Hoàn được nhà Tống nể trọng, vua Tống nhận xét ông “tư cách gồm nghĩa dũng, bẩm tính vốn trung thuần, được lòng người trong nước”. Còn các sứ giả nhà Tống thì coi ông “không khác gì vua Tống”.
Vào năm 996, tức hơn 10 năm sau khi Lê Hoàn thắng giặc Tống (981), khi quan trấn thủ địa phương báo với vua Tống “chiến thuyền Giao Chỉ hơn trăm chiếc vào xâm phạm lãnh thổ” (trấn Như Hồng thuộc Khâm Châu), vua Tống không những làm lơ mà còn sai sứ giả mang chiếu thư và đai ngọc sang ban cho Lê Hoàn. Khi sứ giả tới, Lê Hoàn bảo với sứ giả: “Việc cướp trấn Như Hồng là do bọn giặc biển ở ngoài, Hoàng đế có biết đó không phải là quân của Giao Châu không? Nếu Giao Châu có làm phản thì đầu tiên đánh vào Phiên Ngung, thứ đến đánh Mân Việt, há chỉ dừng ở trấn Như Hồng mà thôi đâu” (Đại Việt sử ký Toàn thư).
Phiên Ngung là địa danh thuộc tỉnh Quảng Châu, còn Mân Việt là tỉnh Phúc Kiến ngày nay. Lê Hoàn thẳng thừng nhắc cho vua Tống biết những vùng đó là lãnh thổ cũ của các vua Hùng “phía tây giáp Tây Thục, phía bắc tới Động Đình Hồ”. Điều này cho thấy quốc lực của Đại Cồ Việt ta mạnh như thế nào.
Cần đặc biệt lưu ý, giữa lúc nước ta chuẩn bị kháng chiến chống xâm lược thì xảy ra nội loạn đe dọa sự tồn vong của quốc gia. Cầm đầu lực lượng chống đối là những đại công thần của nhà Đinh như Định quốc công Nguyễn Bặc và Vệ úy Phạm Hạp… Sau khi bình định, đối với lực lượng làm binh biến, Lê Hoàn bất đắc dĩ phải xử tử những người cầm đầu nhưng không sát hại bất kỳ ai trong gia đình và phe nhóm của họ.
Đọc sử sách, ta kinh ngạc về đạo dùng người của ông. Phạm Hạp không thể không giết, nhưng Lê Hoàn lại trọng dụng em ruột Phạm Hạp là Phạm Cự Lượng làm đại tướng quân, rồi thăng đến Thái úy thống lĩnh quân đội. Nguyễn Bặc không thể không giết, nhưng ông lại trọng dụng con trai Nguyễn Bặc là Nguyễn Đê, thăng đến chức Hữu Điện tiền chỉ huy sứ. Nguyễn Đê chính là “Nhị tổ” của hoàng tộc nhà Nguyễn sau này.
Lê Hoàn ở ngôi 24 năm, trong 24 năm đó ông không chỉ đập tan một đội quân xâm lược sừng sỏ mà còn tăng cường quốc lực, khiến nước Việt ta mạnh lên, kiến tạo nền móng vững chắc làm nền tảng cho nền văn minh Lý – Trần rực rỡ sau đó. Các sử gia lấy làm khó hiểu khi thấy ông hết đánh đông dẹp bắc lại lo đào sông đắp đập mà không lo chuyện “hưởng nước lâu dài” cho con cháu.
Đứng đầu quốc gia mà chí công vô tư, chỉ lo cho sự tồn vong, cường thịnh của đất nước mà không lo cho bản thân và dòng họ, nước Việt ta là một “nước lớn” bắt đầu từ hoàng đế Lê Hoàn. Đó cũng là di sản lớn nhất mà Lê Hoàn để lại cho ngàn năm sau, cho đến ngày hôm nay.
Từ đó, chúng ta tiếp tục thắng Tống, 3 lần thắng đội quân hùng mạnh nhất thế giới là Nguyên Mông, rồi thắng quân Minh, thắng quân Thanh, thắng 2 đế quốc Pháp và Mỹ, rồi thắng trong cuộc Chiến đấu bảo vệ biên giới phía bắc năm 1979.
Nếu chỉ giỏi đánh giặc thì không thể có được những chiến công vang danh sử sách như vậy. Mà đó là thành quả của “vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, cả nước chung sức” (Trần Quốc Tuấn), là “Bốn mươi thế kỷ cùng ra trận” (Tố Hữu). Lịch sử thế giới cho thấy dù quân chủ hay dân chủ, khi giới cầm quyền tách khỏi vận mệnh quốc gia và lợi ích của nhân dân, chỉ lo tranh giành địa vị, khi ấy quốc gia đó là “nước nhỏ”; khi giới cầm quyền với nhân dân là một, thì quốc gia đó dù còn nghèo, nhưng vẫn là một “nước lớn”. Bởi vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh mới nhắc đi nhắc lại Đảng cầm quyền “vừa là người lãnh đạo vừa là đầy tớ trung thành của nhân dân”.
2.
Từ khi nước ta chuyển từ kinh tế kế hoạch với cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng XHCN, chỉ mới 40 năm mà đất nước đã phát triển ngoạn mục ngoài mọi dự đoán. Từ lạm phát phi mã, quy mô kinh tế chỉ vỏn vẹn 8 tỉ USD/năm, thu nhập đầu người vào hạng “gần bét” của thế giới với 70% dân số nghèo đói vào năm đầu đổi mới (số liệu năm 1993 là 58%), sau 40 năm tỷ lệ đói nghèo chỉ còn dưới 1,9%, quy mô nền kinh tế tăng lên 476,3 tỉ USD vào năm 2024, cao gấp 59,5 lần. Ước tính quy mô GDP năm 2025 vượt 510 tỉ USD, lớn thứ 32 toàn cầu; GDP đầu người vượt 5.000 USD, đưa nước ta thành nước có thu nhập trung bình cao trên thế giới.


Đền thờ hoàng đế Lê Hoàn ở Thanh Hóa
Kinh tế thị trường không phải là thứ “ngoại nhập” từ phương Tây, mà đã tồn tại ở nước ta từ hàng ngàn năm trước. Nhà Tiền Lê (đầu thế kỷ 11) đã đề nghị nhà Tống cho nước ta đặt người phụ trách các chợ trao đổi hàng hóa vào nội địa Trung Quốc (việc này ngang với ngày nay chúng ta đặt cơ quan đại diện thương mại ở nước ngoài), chứng tỏ việc sản xuất hàng hóa và buôn bán trong nước đã rất nhộn nhịp, nhu cầu mở rộng ngoại thương là bức bách.
Thời nhà Mạc (thế kỷ 16), nước ta đã giao thương hàng hóa với hàng chục nước trên thế giới. Thời các chúa Nguyễn (thế kỷ 17 – 18), kinh tế thị trường đã rất phát triển, điển hình là Hội An và Sài Gòn trở thành những trung tâm giao thương sầm uất. Kinh tế thị trường đã thành tập quán lâu đời được các triều đại quân chủ nước ta bảo trợ và thúc đẩy trước khi “ông tổ” của kinh tế thị trường phương Tây là Adam Smith ra đời.
Ngày nay nước ta đang hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và đưa cả dân tộc vươn mình vào kỷ nguyên mới, giàu mạnh và thịnh vượng. Chúng ta hội nhập với thế giới, nhưng trước hết là hội nhập vào dòng chảy lịch sử của chính mình.
Chúng ta bắt đầu đổi mới khi quốc lực cạn kiệt sau những cuộc chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời phải đương đầu với cuộc cấm vận nghiệt ngã kéo dài của phương Tây, nhưng chúng ta đã vươn lên mạnh mẽ, không những về xóa đói giảm nghèo và quy mô nền kinh tế mà còn rút ngắn đáng kể khoảng cách thu nhập giữa nước ta và hầu hết các nước trên thế giới, vượt qua nhiều nước mà trước đây ta thua họ. Chúng ta đặt ra mục tiêu 20 năm nữa trở thành nước phát triển thu nhập cao. Với tốc độ như hiện giờ thì mục tiêu đó là khả thi.
Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào GDP hay GNI để đánh giá sự phát triển thì 20 năm nữa mới nhìn thấy quốc gia chúng ta là “nước phát triển”. GDP là chỉ số giúp các chính phủ điều hành kinh tế vĩ mô, tuy hầu hết các nước phát triển đều có GDP/GNI bình quân đầu người cao, nhưng không nói lên thực chất sự thịnh vượng của một quốc gia. Bởi vì theo cách tính của nó, chẳng hạn như thiệt hại do động đất hay thiên tai không trừ đi GDP (tất nhiên sự thiệt hại này làm suy yếu doanh nghiệp và sức mua của dân chúng, ảnh hưởng đến GDP trong tương lai), nhưng chi phí để khắc phục động đất hay thiên tai sẽ được cộng vào GDP.
Có người nói đùa rằng mấy anh đi xe đạp rất không tốt cho tăng trưởng GDP, vì mấy ảnh cản trở sự phát triển của ngành công nghiệp ô tô và dịch vụ tài chính, mấy ảnh ít mắc bệnh nên còn cản trở tăng trưởng của dịch vụ y tế. Sự đùa vui đó không phải là không có đạo lý, xuất phát từ bản chất của GDP.
Trước những năm 1930, thế giới không có chỉ số GDP/GNI, nhưng người ta vẫn biết nước nào là giàu nước nào nghèo. Nhưng đó là câu chuyện khác, không bàn trong bài viết này.
3.
Từ sau Đại chiến thế giới lần thứ 2, trật tự thế giới do các siêu cường chi phối. Nhìn vào LHQ ta thấy rõ 5 nước thường trực Hội đồng Bảo an muốn quyết định vận mệnh thế giới.
Chẳng hạn vấn đề cấm vận. Có hai loại cấm vận mà các nước lớn áp đặt cho nước khác: Thứ nhất là cấm vận đơn phương, không cần Hội đồng Bảo an LHQ và dùng quyền lực kinh tế và chính trị để chi phối các nước. Thứ hai là cấm vận thông qua Hội đồng Bảo an, buộc tất cả các thành viên LHQ phải thực thi.

Diễn đàn Nước Việt Nam ta nhỏ hay không nhỏ? từng tạo nên không khí thảo luận sôi nổi trên Báo Thanh Niên
Cuba là điển hình của loại thứ nhất. Mỹ và một số đồng minh áp đặt cấm vận kinh tế toàn diện từ năm 1962 tới nay (64 năm), hoàn toàn đơn phương, không hề có nghị quyết nào của Hội đồng Bảo an. Thời Chiến tranh Lạnh, Mỹ không đưa ra Hội đồng Bảo an vì chắc chắn bị Liên Xô phủ quyết. Sau khi Liên Xô tan rã, Mỹ cũng không đưa ra vì biết chắc Nga và Trung Quốc sẽ phủ quyết. Hằng năm, Đại hội đồng LHQ đều thông qua nghị quyết yêu cầu Mỹ chấm dứt cấm vận (gần đây nhất là 187–191/193 phiếu thuận), nhưng nghị quyết Đại hội đồng chỉ mang tính khuyến nghị, không có chế tài pháp lý, nên Mỹ hoàn toàn phớt lờ.
Một điển hình khác là Việt Nam. Sau năm 1975, Việt Nam ta vẫn bị Mỹ và phương Tây cấm vận, nhưng mức độ chưa quá nặng nề vì chúng ta có sự ủng hộ của hệ thống các nước XHCN, phong trào không liên kết và nhiều nước khác. Đến khi Việt Nam đưa quân đánh đuổi tập đoàn diệt chủng Pol Pot, thì Mỹ và các nước phương Tây và những nước lớn khác ở châu Á đồng loạt cấm vận Việt Nam, kéo dài tới 16 năm khiến nước ta điêu đứng, nhưng Việt Nam vẫn kiên cường trụ vững.
CHDCND Triều Tiên là điển hình của loại cấm vận thứ hai. Giai đoạn 2006 – 2017, Hội đồng Bảo an đã thông qua 10 nghị quyết cấm vận ngày càng khắt khe, tất cả đều nhất trí 15-0, trong đó có phiếu thuận của cả Trung Quốc và Nga (vì lúc đó họ cũng lo ngại chương trình hạt nhân và tên lửa của Bình Nhưỡng).
Giờ đây, Trung Quốc và Nga đã thân thiện hơn với Triều Tiên, nhưng muốn gỡ bỏ lệnh cấm vận của Hội đồng Bảo an LHQ là điều bất khả thi, vì muốn dỡ bỏ thì phải có một nghị quyết mới của Hội đồng Bảo an, nhưng một nghị quyết như vậy sẽ không bao giờ được thông qua nếu Mỹ (hoặc Anh hay Pháp) phủ quyết. Trung Quốc và Nga chỉ có thể phủ quyết những nghị quyết gia tăng cấm vận Triều Tiên mà thôi.
Trong tương lai, trật tự thế giới bất công đó có thể thay đổi hay không? Có thể, nếu nền kinh tế thị trường, đi liền với nó là nhà nước pháp quyền, được định hình ở mọi quốc gia trên hành tinh.
Lịch sử thế giới cho thấy nền kinh tế thị trường và nhà nước pháp quyền không tương thích với chiến tranh và tình trạng cá lớn nuốt cá bé giữa các nước. Nền kinh tế thị trường chỉ cho phép các nhà nước thu một mức thuế vừa phải, đủ để sử dụng cho các nhiệm vụ phòng thủ đất nước, duy trì luật pháp, xây dựng các công trình công cộng, bảo đảm an sinh xã hội hỗ trợ người dân yếu thế và phục vụ các chương trình phát triển kinh tế mà người dân không tự làm được. Nhà nước pháp quyền không cho phép các chính phủ lạm dụng quyền lực để sử dụng các nguồn lực không phục vụ cho nhu cầu chính đáng của người dân trong nước.
Quan hệ giữa các quốc gia dựa trên nền tảng kinh tế thị trường sẽ thu hẹp bất đồng giữa các nhà nước về những vấn đề chính trị, an ninh và lãnh thổ. Khi thể chế kinh tế thị trường được xác lập đầy đủ ở mọi quốc gia thì nền tảng quan hệ quốc tế chỉ còn là sự hợp tác giữa các doanh nghiệp và công dân.
Nhà nước lúc ấy không phải không còn vai trò mà nhà nước phải đảm nhiệm vai trò trên những lĩnh vực mà doanh nghiệp và công dân không thể và không có khả năng đảm nhiệm được, như bảo vệ chủ quyền quốc gia, hợp tác quốc phòng và an ninh, thay đổi luật lệ để bảo đảm sự tương thích của luật pháp và sử dụng các nguồn lực quốc gia trong hợp tác quốc tế.
Khi ấy, vấn đề nước lớn – nước nhỏ sẽ không tồn tại.
Khi các tập đoàn kinh tế của chúng ta đủ mạnh để hợp tác với các tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới, khi các nhà khoa học tài năng của chúng ta hợp tác với các nhà khoa học hàng đầu các nước, khi ấy làm gì còn chuyện mạnh-yếu, lớn-nhỏ nữa.
***
Sau 40 năm đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam quán triệt sâu sắc sứ mệnh lịch sử của mình trong kỷ nguyên mới. Chúng ta đang hoàn thiện thể chế cho kinh tế thị trường vận hành đầy đủ theo định hướng XHCN.
Bước đột phá hiện nay là tháo bỏ “điểm nghẽn của điểm nghẽn” để thực hiện mục tiêu này. Xóa bỏ điểm nghẽn thể chế cũng đồng thời giải phóng khả năng sáng tạo của con người.
Và xin nhắc lại, định hướng XHCN là bảo đảm cho ổn định chính trị và an sinh xã hội, hỗ trợ các thành phần yếu thế và nâng cao phúc lợi cho người dân. Nhiều nước phát triển cũng làm như vậy, chỉ là họ không gọi tên là định hướng XHCN mà thôi. Không có quốc gia nào bất ổn chính trị mà phát triển được cả, dù là quân chủ hay dân chủ.
Quốc gia chúng ta chưa bao giờ là nhược tiểu, quá khứ là vậy, hiện tại là vậy và tương lai cũng vậy!
Nguồn: https://thanhnien.vn/nuoc-viet-ta-nho-hay-khong-nho-185260131170825143.htm

