Trong số bài về đám tang bà Năm Phỉ năm 1954, tôi chú ý bức ảnh nghệ sĩ Kim Cương đang ôm một bức tượng sẫm màu, chú thích: “Cô Kim Cương ôm pho tượng đồng của cô Năm Phỉ khóc. Pho tượng này do sinh viên V.N ở Hà Nội tặng cô Năm nhơn dịp cô ra Thăng Long hát giúp sinh viên”.

Trần Ngọc Quyên đang làm việc
Nhìn bức tượng trong ảnh, tôi cho rằng chỉ có thể là tác phẩm của sinh viên Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương tại Hà Nội. Nó phải được thực hiện sau khi nghệ sĩ Năm Phỉ lưu diễn tại Pháp thành công vang dội năm 1931 và từ đó thường ra Hà Nội biểu diễn.
Cuối năm 2024, sự quan tâm này sống lại khi tôi tình cờ nhận được lô ảnh chụp các tác phẩm của một điêu khắc gia mà người gửi chỉ biết ông từng học Trường Mỹ thuật Đông Dương nhưng mất rất sớm. Trong số đó, bất ngờ thay có ảnh bà Năm Phỉ đứng cạnh bức tượng đồng của chính bà do cô Kim Cương ôm trong tay mà tôi đã thấy trên trang báo xưa.
Từ đó, tôi bắt đầu cuộc tìm kiếm thân thế ông Trần Ngọc Quyên, và qua đó dần khẳng định ông là một tên tuổi lớn của làng điêu khắc Việt Nam hiện đại đầu thế kỷ 20, một tài năng điêu khắc từng được các báo thời Pháp thuộc tại Hà Nội ca ngợi và là học trò cưng của Victor Tardieu, Hiệu trưởng Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.
Qua thông tin từ phía gia đình phải mất thời gian mới liên lạc được, điêu khắc gia Trần Ngọc Quyên sinh năm 1910 tại Lương Hòa Lạc, Bến Tranh, thuộc tỉnh Mỹ Tho cũ (nay là Đồng Tháp). Ông là người con thứ 10 trong 11 anh em. Thân phụ của ông là Trần Nhật Vĩnh, mẹ là Đỗ Thị Song, quê ở Bình Điền, H.Bình Chánh, Gia Định. Hiện nay gia đình còn một nếp nhà ở số 283 ấp Lương Phú A, xã Lương Hòa Lạc (H.Chợ Gạo, Tiền Giang cũ, nay là Đồng Tháp). Gia đình ông thuộc hàng khá giả ở Mỹ Tho. Nhiều người ở Mỹ Tho xưa kia từng nhớ ơn Trần Ngọc Quyên vì có một thời gian ở Mỹ Tho ông dạy tiếng Pháp cho họ nên sau này nhiều người đi Pháp lập nghiệp thành công.

Tượng nghệ sĩ cải lương Phùng Há do nhà điêu khắc Trần Ngọc Quyên thực hiện trong thập niên 1930. Trước khi mất, bà Phùng Há đã tặng lại cho con gái của ông Quyên, bà Trần Ngọc Thúy Lan
Trong danh sách học sinh tốt nghiệp Trường Vẽ Gia Định năm 1929 do Trường ĐH Mỹ thuật TP.HCM thực hiện (*), chỉ có hai người tốt nghiệp là Cao Kim Trọng và Trần Ngọc Quyền. Có thể đoan chắc học sinh thứ hai chính là Trần Ngọc Quyên (văn bản thời Pháp lưu lại không có dấu nên khi đưa vào kỷ yếu có thể suy đoán là tên Quyền) và năm 1929 là năm ông đậu vào Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Trong thời gian học ở trường, điêu khắc gia Georges Khánh đang là thầy giáo dạy điêu khắc của các sinh viên năm đầu, trong đó có Trần Ngọc Quyên.
Là sinh viên khóa V từ năm 1929 – 1934, Trần Ngọc Quyên là sinh viên ngành điêu khắc duy nhất tốt nghiệp khóa này. Các sinh viên ngành hội họa cùng tốt nghiệp có Trần Bình Lộc, Phạm Hậu, Nguyễn Đỗ Cung, Phạm Văn Thuận, Nguyễn Văn Long, Trương Đình Hiền và Nguyễn Đình Thược.
Bằng tài năng của mình, Trần Ngọc Quyên đã có những thuận lợi đầu tiên. Theo tác giả Nguyễn Quốc Định trong công trình biên khảo Mỹ thuật Đông Dương – sự hình thành và phát triển (**): “Trong khóa sinh viên mới tốt nghiệp vào năm 1934, thầy Tardieu có vẻ ưu ái hai học trò là Trần Bình Lộc và Trần Ngọc Quyên. Để giúp hai học trò mới tốt nghiệp có việc làm, ông đã không ngại giới thiệu họ với Phó toàn quyền Châtel và Giám đốc nha Học chính Bernard. Nhà điêu khắc trẻ Quyên qua sự giới thiệu này đã nhận được đơn hàng tạc tượng từ Châtel…”.
Phòng triển lãm mỹ thuật 1935 nổi bật tên tuổi Trần Ngọc Quyên
Năm 1935, sau khi Trần Ngọc Quyên tốt nghiệp không lâu, có một sự kiện quan trọng liên quan đến giới mỹ thuật thời ấy là ở Hà Nội tổ chức Phòng triển lãm mỹ thuật và kỹ nghệ đầu năm 1935 do Hội Việt Nam chấn hưng mỹ thuật và kỹ nghệ thực hiện. Phòng triển lãm tổ chức thi và trưng bày các tác phẩm nghệ thuật của 105 người dự thi bao gồm 39 họa sĩ, 6 nhà điêu khắc, 4 nhà kiến trúc, 56 nhà kỹ nghệ, và nhiều người trong số đó sau này là những tên tuổi thượng thặng của nền mỹ thuật Việt Nam. Hội đồng chấm thi ở các hạng mục có những ông như Victor Tardieu, Tô Ngọc Vân, Lê Phổ, Nguyễn Cao Luyện, Nguyễn Nam Sơn, George Khánh, Võ Đức Dziên, Trần Quang Trân, Nguyễn Tường Tam, Trần Văn Cẩn, Trần Bình Lộc… Hội đồng chấm giải cho các hạng mục: Họa sĩ, kỹ nghệ mỹ thuật và điêu khắc. Mỗi hạng mục có các giải từ cao xuống thấp, từ cao nhất là ngoại hạng, đến mề đay vàng, mề đay bạc, mề đay đồng và giấy khen. Kết quả, hạng họa sĩ đoạt giải Ngoại hạng có Nguyễn Tường Lân, Nguyễn Gia Trí, Mai Trung Thứ, Trần Phềnh, Nguyễn Cát Tường, Nguyễn Phan Chánh, Đỗ Đức Thuận. Hạng Kỹ nghệ mỹ thuật có giải Ngoại hạng gồm: Sách, báo của nhóm Tự Lực Văn Đoàn, Phạm Văn Quế (thêu), Võ An Ninh (chụp ảnh), Phạm Tá (nhuộm), Khánh Ký (chụp ảnh). Ở hạng mục điêu khắc, giải Ngoại hạng chỉ có Trần Ngọc Quyên.

Ba bức ảnh chụp nghệ sĩ Năm Phỉ bên cạnh bức tượng bán thân của bà do Trần Ngọc Quyên thực hiện. Góc phải (dưới) là bức ảnh trên báo Văn Nghệ năm 1954 ghi lại lúc nghệ sĩ Kim Cương ôm bức tượng này khi dì Năm Phỉ của cô qua đời. Tượng sau đó đã bị thất lạc
Trong bài báo Tô Tử đi thăm phòng Triển lãm 1935 trên trang 3 báo Phong Hóa số 136 ra ngày 15.2.1935, tác giả Nhị Linh (cũng là nhà văn Nhất Linh) viết bằng giọng văn trào phúng nhẹ nhàng dẫn dắt người đọc qua từng gian triển lãm mà ông đi cùng nhà thơ trào phúng Tú Mỡ, bao gồm 5 gian theo thứ tự A, B, C, D và E, đi từ gian E trở về trước. Ở mỗi gian, tác giả nhấn nhá miêu tả những tác phẩm nổi bật nhất được trưng bày. Ở gian D có bức ba cô ngồi đánh cờ của Nguyễn Anh, bức Hai cô bí mật thì thầm nói truyện của Trần Bình Lộc. Các bức này tác giả chỉ đùa tếu khi bình luận, bức của Trần Bình Lộc được cho là: “Tôi cứ tưởng họ lấy ráy tai cho nhau”. Do đó, không có gì lạ khi ở gian này ông phát hiện ra bức tượng của Trần Ngọc Quyên và nhận xét với giọng văn tưng tửng: “Về khoa điêu khắc, có người vác bao gạo của Trần Ngọc Quyên to lớn bằng người thực. Khen thay anh phu gạo vác mãi mà không mỏi mệt chút đỉnh, nét mặt vẫn tươi như hoa. Tôi ngờ rằng có lẽ anh chàng vác bao bông gạo!”.
Sang gian A, bên cạnh bức chân dung Hoàng Trọng Phu của Lê Phổ là tủ sách Tự Lực Văn Đoàn (giải ngoại hạng Kỹ nghệ mỹ thuật) và bức tượng thứ hai của Trần Ngọc Quyên Cô Nhật yểu điệu đặt bàn tay xinh xắn lên vai mà tác giả cho biết ông Toàn quyền Robin đã mua cùng với bức tranh Cô em ngồi mơ mộng của Tường Lân. Lướt qua gian B, đến gian C, người đọc lần nữa thấy nhắc đến Trần Ngọc Quyên: “Có bày pho tượng bằng đất của Trần Ngọc Quyên đắp người mẹ trần truồng ôm con cũng trần truồng ngồi đợi chồng. Vì thế, nhà điêu khắc đặt tên bức tượng là Vọng phu”.
Như vậy, trong 5 gian Phòng triển lãm mỹ thuật 1935, có tới 3 bức tượng của Trần Ngọc Quyên được trưng bày, đó là vinh dự và sự tôn vinh tài năng của ông.
Trong cuốn sách của mình, tác giả Nguyễn Quốc Định dẫn đoạn trích bài báo Triển lãm 1935 (salon 1935) đăng trên tờ Tương lai Bắc kỳ bằng tiếng Pháp: “Ở phòng A cuộc triển lãm: “Bên phải là tượng bán thân “Thiếu nữ” bằng đồng của Trần Ngọc Quyên với vẻ đẹp duyên dáng”. Ở phòng D: “…người xem phải lùi ra xa để chiêm ngưỡng bức tượng lớn “Người khuân vác” của Trần Ngọc Quyên. Bức tượng được dựng nên một cách hoành tráng với sự chuyển động mạnh mẽ và thể hiện một nỗ lực đáng khâm phục của tác giả”. Tác giả bài báo này tưởng tượng: “Sẽ rất thú vị nếu bức tượng này được dựng ở một cảng tại Hải Phòng” lý do là “Nó được làm bằng đá granite, một loại đá cứng có thể chống lại mưa và thời tiết xấu”. Có lẽ bức này gợi nhớ đến giới phu khuân vác ở cảng Hải Phòng.
Riêng trên tờ Ngày nay số 3 ra ngày 20.2.1935, bài Phòng triển lãm 1935 của tác giả Việt Sinh (tức nhà văn Thạch Lam), viết: “…Điêu khắc thật đã tiến bộ một bước dài, nhờ ông Trần Ngọc Quyên và Georges Khánh – mà cũng chỉ có hai ông ấy”. Tờ này ưu ái đưa bức tượng Người khuân vác của Trần Ngọc Quyên ra tràn bìa. Bài trang 2 Nền mỹ thuật Việt Nam là bức tượng chân dung cô gái cũng của Trần Ngọc Quyên. Bức tượng Người khuân vác của Trần Ngọc Quyên được quan tâm nhiều dù với sự phê bình thẳng thắn: “Pho tượng người phu vác hàng của ông Quyên rất đẹp: ông cốt tỏ rõ cái khó nhọc, nặng nề của người vác. Tuy rằng cái ý ấy ông chưa hoàn toàn đạt được. Cái đường cong của thân người chưa tỏ được sự cố sức, phải có những bắp thịt gân cốt nổi lên ở tay, ở vai và ở bắp chân mới đủ tỏ rõ được chỗ người phu thu hết sức lực vào việc nặng”.
Hơn một tháng sau, trên trang 4 báo Phong Hóa, số 141 ngày 22.3.1935 có bài Tương lai mỹ thuật của Cát Tường (họa sĩ Le mur Cát Tường) phỏng vấn một số nhân vật trong lĩnh vực nghệ thuật tạo hình nổi tiếng thời đó về những ý định thực hiện trong tương lai. Trong số được phỏng vấn có hai kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện và Võ Đức Diên, các họa sĩ Nam Sơn, Tô Ngọc Vân, Mai Trung Thứ, Lê Thị Lựu, Nguyễn Tường Lân, một nhà mỹ thuật là Vũ Bốn và điêu khắc gia Trần Ngọc Quyên. Trần Ngọc Quyên được mô tả là “Một nhà điêu khắc, vai u, thịt bắp, đầu nhỏ, người cao”. Trong bài, ông trả lời: “Tôi chẳng dám nói những hy vọng quá cao để sau này trở nên những ông Rodin, Michel-Ange, Phidias bên trời Nam, song cứ cố sức làm, làm rất nhiều để cho nghề tôi hoàn toàn, là tôi mãn nguyện”.
Theo Nguyễn Quốc Định (sđd), từ 28.11 – 15.12.1935, tại Pháp có cuộc triển lãm Pháp – Hải ngoại do tổ chức “Ngôi nhà Pháp tại hải ngoại” (maison de la France Outre-Mer) tổ chức. Ông Tardieu viết thư về nhắn nhủ học trò gửi các tác phẩm sang triển lãm. Thùng tranh gửi sang Pháp chứa 19 tác phẩm hội họa. Riêng tác phẩm điêu khắc do Trần Ngọc Quyên chịu trách nhiệm chuyển riêng. Ông Quyên gửi bức tượng bán thân thiếu nữ có một tay khoác lên vai bằng thạch cao và Georges Khánh gửi một bức tượng đồng thiếu nữ. Trong thư gửi thầy Tardieu, Trần Ngọc Quyên cho biết ngoài tượng bán thân ngài Châtel, ông còn nắn cả tượng Toàn quyền Đông Dương Robin. Bức này ông làm trong
6 phiên, mỗi phiên một giờ tại văn phòng Toàn quyền. Hiện ông đang làm tượng ông GrandJean – giám đốc phòng chính trị và bà Robin. Ông Quyên cũng thông báo cho thầy mình là đang làm một bức tượng thiếu nữ đưa ngón tay lên miệng và gửi một số ảnh về những tượng đang làm, trong đó có tượng nữ nghệ sĩ họ Phùng (có thể hiểu là Phùng Há) và tượng bán thân một nghệ sĩ khác. Trong thời gian này, ông ngụ tại số nhà 107 Rue Chanceaulme (nay là phố Triệu Việt Vương), Hà Nội.
Những ai đã được Trần Ngọc Quyên làm tượng? Đó là những tên tuổi của xã hội Đông Dương thời đó. Đó là Toàn quyền Đông Dương Eugène Jean Louis René Robin, Thống sứ Bắc Kỳ Yves Charles Châtel, nhà thơ Ưng Bình Thúc Giạ Thị, chủ bút cuối cùng của Nam Phong tạp chí Nguyễn Tiến Lãng, họa sĩ Lê Thị Lựu, nghệ sĩ Phùng Há, nghệ sĩ Năm Phỉ, cố vấn danh dự Tòa Phúc thẩm Sài Gòn Đỗ Hữu Trí, Chánh hội trưởng Phật giáo Bắc Kỳ Nguyễn Năng Quốc và nhiều tên tuổi khác.
Về Bình Dương và ra đi
Các con cháu gia đình hiện nay không xác định được thời gian khi nào ông Trần Ngọc Quyên trở lại miền Nam quê hương, nhưng căn cứ theo Nguyễn Quốc Định, ông Quyên đã có đơn xin nghỉ việc giáo viên dạy vẽ hạng IV Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương và được chấp nhận từ ngày 1.9.1941. Nguyễn Quốc Định nhận định: “Như vậy Quyên đã vào biên chế ít nhất hai năm trước vì để lên hạng IV cần phải trải qua một năm thực tập”. Có lẽ 1941 là mốc thời gian ông Quyên trở lại miền Nam để sinh sống và tiếp tục hoạt động nghệ thuật.
Trước đó, khoảng một thời gian sau khi tốt nghiệp, ông Trần Ngọc Quyên lập gia đình với bà Nguyễn Thị Phước, con một vị đốc học nổi tiếng ở Vũng Tàu và sinh ra ba người con ở miền Nam. Theo bà Phước kể lại cho con cháu, sau khi từ giã Hà Nội về miền Nam, chồng bà đã chọn đất Bình Dương (nay thuộc TP.HCM) để sinh sống và làm việc vì loại đất sét có sẵn ở Bình Dương – mà các lò gốm ở Lái Thiêu rất ưa chuộng – thích hợp để nắn tượng. Ở đó, ông gặp và góp phần dạy hội họa cho ông Nguyễn Thành Lễ, sau này là chủ công ty sơn mài Thành Lễ nổi tiếng bậc nhất miền Nam trước 1975.
Năm 1945 Pháp gây hấn trở lại và một năm sau Trần Ngọc Quyên bị giết chết trong khói lửa chiến tranh ngày 11.1.1946 khi mới 36 tuổi. Sau cái chết của chồng, bà Phước đưa ba người con rời Bình Dương về quê hương Vũng Tàu (nay thuộc TP.HCM). Đang sống trong sự sung túc, từ đây bà lao vào cuộc kiếm sống vất vả để nuôi con. Rất may là sau khi ông Quyên mất, một số người thợ sơn mài quen biết ở Bình Dương gửi một số tiền giúp bà Phước nuôi con.
Những gì còn lại
Bà Phước mất khoảng năm 1970. Ba người con của ông bà: hai con gái đầu là Ngọc Anh sinh năm 1937 (đã mất tại Sài Gòn) và Thúy Lan sinh năm 1941 đang sống ở Mỹ, con trai út là Minh Châu sinh năm 1942 hiện sống ở Canada. Khi ông mất, các con của ông còn quá nhỏ, nên cả ba không biết gì mấy về cha mình ngoài lời kể của mẹ. Họ nhớ nhất điều mẹ căn dặn: “Cha của các con là người tài giỏi và sống có đạo đức, con cháu phải sống cho xứng đáng với ông!”.

Bức tượng bằng đá granite Người khuân vác
Trong số kỷ vật của ông Trần Ngọc Quyên để lại có một album hình chụp các tác phẩm và một ít hình hoạt động ở Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Kỷ vật thứ hai là bức tượng bà Phùng Há, nghệ sĩ cải lương tài danh nổi tiếng, nhỏ hơn ông một tuổi và là bạn của ông thời còn ở Mỹ Tho. Khoảng vài năm trước khi mất năm 2009, bà Phùng Há đem bức tượng này gửi con trai người thầy giáo của bà Thúy Lan và dặn dò trao tận tay. Bức tượng ban đầu được đặt ở Vũng Tàu và được bà Thúy Lan đưa sang Mỹ bày trong nhà. Sau bà Thúy Lan có về thắp nhang trước mộ bà Phùng Há tại chùa Nghệ sĩ (TP.HCM) để cảm tạ.
Gia đình còn giữ một bức tranh sơn mài của ông Thành Lễ tự thực hiện để dâng cúng cho thầy sau khi ông Quyên mất. Bức tranh vẽ chùa Một Cột, mang ý nghĩa tưởng vọng Hà Nội, nơi ông Quyên đã học và thành danh. Bức này hiện cũng có trong nhà bà Thúy Lan ở Mỹ.
Ngoài ra, gia đình còn giữ được đoạn thư viết tay của Hiệu trưởng Trường Mỹ thuật Đông Dương Victor Tardieu. Trong thư, ông Tardieu thể hiện sự băn khoăn về công việc của ông Quyên sau khi ra trường. Ông viết: “Quyên, nhà điêu khắc tài năng người Nam kỳ, anh có thể kiếm sống bằng tài năng của mình. Anh đã bán được rất nhiều và nhận được những đơn đặt hàng thú vị” và “Tuy nhiên với Quyên, tôi cho rằng nếu chúng ta gửi anh ấy làm giáo viên ở một trung tâm nhỏ như Vinh chẳng hạn, sẽ rất bất lợi cho anh ấy, ngay cả về mặt tài chính, theo quan điểm, bởi vì anh ta sẽ không kiếm được gì ngoài tiền lương của mình”.
Về bức tượng nổi tiếng nhất của ông Trần Ngọc Quyên là Người khuân vác, anh Khiêm là cháu ngoại của Trần Ngọc Quyên, con bà Thúy Lan, đã tìm cách liên lạc Bảo tàng Mỹ thuật Hà Nội để hỏi thăm về bức tượng nhưng được trả lời là người Pháp đã đem bức tượng về nước sau chiến tranh.
Trở lại bức tượng bà Năm Phỉ do ông Trần Ngọc Quyên thực hiện, nghệ sĩ Kim Cương cho biết sau đám tang năm 1954, tượng được đặt trong ngôi nhà kỷ niệm bà Năm Phỉ do gia đình mua và giao cho một người anh của bà gìn giữ cùng các kỷ vật khác. Tuy nhiên, qua thời gian, bức tượng không còn, không biết lưu lạc nơi đâu.
(*) Trường đại học Mỹ thuật TP.HCM – Kỷ yếu Trường Vẽ Gia Định – Đại học Mỹ thuật TP.HCM 1913-2008.
(**) Nguyễn Quốc Định – Mỹ thuật Đông Dương – sự hình thành và phát triển – NXB Thế Giới 2024.
Nguồn: https://thanhnien.vn/di-tim-mot-ngoi-sao-lang-dieu-khac-viet-18526013118360751.htm

