“Nhất Cờn, nhì Quả, tam Bạch Mã, tứ Chiêu Trưng” là câu nói dân gian truyền tụng về 4 ngôi đền thiêng xứ Nghệ, gồm: đền Cờn ở phường Quỳnh Mai, đền Quả Sơn ở xã Đô Lương, đền Bạch Mã ở xã Kim Bảng (Nghệ An) và đền Chiêu Trưng (Hà Tĩnh).
Theo truyền thuyết và đền phả, đền Bạch Mã được lập để thờ danh tướng Phan Đà, người thôn Chi Linh, xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương (nay là xã Kim Bảng). Bạch Mã là gọi theo tên con ngựa trắng mà tướng Phan Đà thường cưỡi khi ra trận.
Đền Bạch Mã, 1 trong 4 ngôi đền thiêng ở xứ Nghệ (Ảnh: Hoàng Lam).
Sử cũ truyền rằng, năm 1423, khi Bình Định Vương Lê Lợi vào Nghệ An xây dựng căn cứ chống quân Minh xâm lược, Phan Đà đã đưa toàn bộ đội dân binh của mình gia nhập vào nghĩa quân của Lê Lợi. Tướng Phan Đàn lập được nhiều công lớn và hi sinh trong một trận chiến khi mới 24 tuổi.
Năm 1428, sau khi lên ngôi, Lê Lợi đã phong tướng Phan Đà là “Đô thiên đại đế Bạch mã thượng đẳng phúc thần”, đồng thời lập đền thờ, liệt vào hàng “điển lễ quốc tế”, nghĩa là tế lễ theo nghi thức nhà nước do quan triều đình làm chủ tế.
Vì sao đền thờ một vị tướng lại được đặt theo tên của con ngựa?. Điều này được ông Nguyễn Tài Diện, một người nghiên cứu về đền Bạch Mã lý giải. Theo các tài liệu thu thập, nghiên cứu của ông Diện, Bình Định Vương Lê Lợi quý mến vị tướng trẻ, dũng mãnh, có tài thao lược đã tặng Phan Đà con ngựa chiến màu trắng.
Kể từ đó, tướng quân Phan Đà cưỡi ngựa trắng, mặc áo giáp trắng đội mũ trụ màu đen tả xung hữu đột trong các trận chiến. Quân Minh chỉ nhìn thấy hình bóng màu trắng lướt trên chiến trận, sợ hãi mà cung kính gọi ông là thần Bạch Mã.
Hình tượng con ngựa trắng tại đền Bạch Mã (Ảnh: Hoàng Lam).
Trong một trận chiến, tướng quân Phan Đà bị thương nặng, con ngựa cũng trọng thương, máu người, máu ngựa hòa lẫn vào nhau, nhuộm đỏ cả lưng ngựa. Dù vậy, “thiên lý mã” đã vượt vòng vây, đưa chủ tướng về đến đất xã Thanh Long (nay cũng thuộc xã Kim Bảng).
Tương truyền giọt máu ông nhỏ tới đâu mối lấp đến đó. Thi thể của ông sau khi trút hơi thở cuối cùng ở mảnh đất thuộc xã Thanh Long cũng được mối vùi lấp thành mộ, rất linh ứng.
Vị trí xây dựng đền Bạch Mã chính là nơi nghĩa quân đi tìm và phát hiện giọt máu của tướng Phan Đà. Nơi đây, thờ tướng Phan Đà, 2 vị phó tướng của ông và thành hoàng làng. Trong đền có tượng ngựa trắng, tượng trưng cho con Bạch Mã và một con ngựa hồng, còn gọi là ngựa tía, tượng trưng cho ngựa của các phó tướng.
Các trận vật cù được tổ chức trong khuôn khổ lễ hội đền Bạch Mã (Ảnh: Hoàng Lam).
“Việc lập đền thờ tướng Phan Đà thể hiện rõ quan điểm trọng dụng người tài của vua Lê Lợi. Còn lấy tên Bạch Mã để đặt cho ngôi đền mang một tầng nghĩa sâu xa hơn, đó là sự biết ơn con ngựa bạch – một phương tiện chiến tranh có tình cảm. Nó không chỉ là con ngựa chiến, đóng góp quan trọng vào chiến công của tướng Phan Đà mà còn là một con ngựa trọng tình, nặng nghĩa”, ông Nguyễn Tài Diện lí giải.
Việc đề cao vai trò của Bạch Mã còn được thể hiện trong các nghi thức của lễ hội đền Bạch Mã và các dịp cúng tế quan trọng. Rất nhiều ngựa giấy nhiều màu sắc được dâng cúng, “hóa vàng”, trong đó con ngựa màu trắng được làm to nhất.
Đền Bạch Mã nổi tiếng linh thiêng và là công trình kiến trúc có giá trị lịch sử văn hóa. Năm 1994, đền được công nhận là Di tích lịch sử văn hóa – Kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia.
Lễ hội đền Bạch Mã diễn ra vào các ngày mồng 8, 9, 10 tháng 2 âm lịch hàng năm, được ghi vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia từ năm 2019. Trong lễ hội đền Bạch Mã có cuộc thi vật cù độc đáo, duy nhất tại Nghệ An.
Nguồn: https://dantri.com.vn/du-lich/ngoi-den-thieng-gan-voi-huyen-tich-ngua-trang-vua-le-loi-tang-tuong-tai-20260219231616200.htm

