Chủ Nhật, Tháng tư 12, 2026
HomeThời SựMiền Tây sống chung với hạn mặn, không chống mặn bằng mọi...

Miền Tây sống chung với hạn mặn, không chống mặn bằng mọi giá

mặn - Ảnh 1.

Hệ thống cống đập ngăn mặn ở xã Khánh Bình, tỉnh Cà Mau điều tiết nước các vùng ngọt, ngăn mặn cho người dân ổn định sản xuất – Ảnh: T.HUYỀN

“Chạm 4‰ là coi như lúa không chịu nổi nữa” – một cán bộ thủy lợi nói ngắn gọn, mắt vẫn dõi theo dòng nước đang âm thầm đổi vị.

Lần theo ranh mặn

Tại các nhánh sông Hàm Luông, sông Cổ Chiên và sông Hậu, tình hình cũng không mấy khác biệt. Ranh mặn 4‰ năm nay ăn sâu vào nội đồng từ 40 đến hơn 45km, có nơi vượt 50km khi triều cường dâng cao. So với các mùa khô cực đoan như 2015 – 2016 hay 2019 – 2020, mức độ xâm nhập mặn năm nay chưa đạt đỉnh lịch sử. 

Nhưng điều khiến nhiều người lo lắng không phải là “độ cao” của mặn, mà là “tốc độ” và sự bất thường. “Mặn bây giờ đi nhanh lắm, không còn từ từ như trước. Có khi chỉ trong vài ngày là vượt ngưỡng rồi” – một cán bộ tại Vĩnh Long nhận định.

Còn ở xã Biển Bạch (Cà Mau), giữa vùng đất ba mặt giáp biển, câu chuyện thiếu nước ngọt không còn là điều gì mới mẻ. Nhưng năm nào cũng vậy, cứ đến mùa khô là nỗi lo ấy lại quay trở lại, dai dẳng và nặng nề hơn. Chúng tôi gặp bà Võ Thị Thơ trong căn nhà nhỏ nằm sát con kênh cạn nước. Trước hiên, hàng chục chiếc lu xếp san sát, cái nào cũng gần cạn đáy. Bà Thơ cẩn thận múc từng gáo nước đìa, đổ qua lớp vải lọc thô trước khi sử dụng. “Ở đây không có nước máy. Nước mưa hứng được bao nhiêu thì xài bấy nhiêu. Hết thì phải mua” – bà Thơ nói.

Điều khiến người ngoài khó hiểu là ngay trước nhà bà Thơ, một đường ống nước sạch đã được kéo qua gần một năm trước. Ống vẫn còn mới nhưng bên trong hoàn toàn khô khốc. “Nghe nói sẽ có nước nên tôi mua chịu ống về lắp sẵn. Ai ngờ chờ hoài không thấy nước đâu” – bà Thơ cười buồn.

Nghịch lý “có ống mà không có nước” không phải là chuyện hiếm. Ông Lê Công Nguyên – Phó giám đốc Trung tâm Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Cà Mau – thừa nhận hằng năm khi bước vào mùa khô, tình trạng thiếu nước cục bộ luôn xảy ra, diễn biến đặc biệt gay gắt tại xã Biển Bạch.

Ông Nguyên nói thời gian qua trung tâm đã nỗ lực truyền tải nước từ trạm đầu nguồn về tận khu vực giáp ranh với tỉnh An Giang. Tuy nhiên, do đường ống kéo đi quá xa, có những tuyến kéo dài hơn 100km so với trạm bơm đầu nguồn khiến áp lực nước sụt giảm. Cộng với việc người dân đồng loạt mở vòi sử dụng vào mùa khô, nguồn nước về đến cuối tuyến bị thiếu hụt, dẫn đến việc nhiều hộ lắp đồng hồ nhưng không có nước xài.

Từ “chống mặn” sang “giữ nước”

Trước thực tế ngày càng khắc nghiệt, các địa phương ở ĐBSCL buộc phải thay đổi cách tiếp cận. Tại Đồng Tháp, chính quyền đang chuẩn bị tái khởi động dự án xây dựng ba hồ trữ nước ngọt với tổng vốn hơn 1.200 tỉ đồng. Các hồ này được kỳ vọng sẽ cung cấp hàng triệu mét khối nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất.

Còn tỉnh Bến Tre cũ (tỉnh Vĩnh Long hiện nay), đặc biệt là các vùng ven biển đang là điểm nóng về tình trạng xâm nhập mặn. Tại các xã thuộc huyện Ba Tri (cũ) đã tiên phong đưa vào sử dụng những hồ chứa nước ngọt đầu tiên của vùng, mở đầu cho phong trào làm hồ trữ nước.

Theo ông Lê Minh Truyền – Phó giám đốc Ban Quản lý dự án nông nghiệp tỉnh Vĩnh Long, Bến Tre cũ là tỉnh ven biển có địa hình trũng thấp trong khu vực nên dễ chịu tác động của biến đổi khí hậu, nhất là ảnh hưởng nặng nề bởi nước biển dâng và mặn xâm nhập. Những tác động bất lợi này diễn ra ngày càng trầm trọng mà đỉnh điểm là mùa khô năm 2015 – 2016 và năm 2019 – 2020.

Ông Truyền nói năm nay tình hình hạn hán, xâm nhập mặn tiếp tục diễn ra và xâm nhập sâu vào nội đồng, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế và dân sinh. Do vậy việc đầu tư xây dựng các hồ trữ nước ngọt trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Theo ông Truyền, cùng với hồ chứa nước Kênh Lấp (xã Tân Xuân), hiện Vĩnh Long có thêm hồ trữ nước Lạc Địa, phục vụ sinh hoạt và sản xuất của hàng chục ngàn hộ dân.

Trong khi đó, tại Cần Thơ cách tiếp cận có phần linh hoạt hơn. Ngay từ cuối mùa mưa năm 2025, ngành nông nghiệp đã chủ động vận hành hệ thống cống theo chu kỳ triều. Khi nước ngọt xuất hiện, các cống được mở để lấy nước vào nội đồng. Khi mặn xâm nhập, toàn bộ hệ thống được đóng lại, giữ nước phục vụ sản xuất. Dọc theo sông Tiền, tỉnh Đồng Tháp cũng đã đưa vào sử dụng hệ thống cống ngăn mặn, kết hợp trữ nước ngọt như cống ngăn mặn Nguyễn Tấn Thành, cống Trà Tân, cống 26-3…

Ở cấp độ nhỏ hơn, một xu hướng đang dần hình thành: trữ nước phân tán. Tại xã Tây Yên (tỉnh An Giang), ông Lê Hùng Thanh khoan giếng sâu 100m, mua thùng phuy lớn để trữ nước mưa. Theo ông Thanh, đó là cách duy nhất để gia đình chủ động nguồn nước. “Không trữ thì tới mùa khô chỉ có mua nước. Mà mua hoài sao chịu nổi” – ông Thanh nói.

Nhiều hộ dân khác cũng tự tìm cách thích ứng: đào ao, căng bạt trữ nước, tận dụng từng cơn mưa hiếm hoi. Những giải pháp nhỏ, tưởng chừng đơn giản, lại đang chứng minh hiệu quả trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến khó lường. 

Nam Bộ nắng nóng, hạn mặn tăng theo con nước

Miền Tây sống chung với hạn mặn - Ảnh 2.

Bà Bùi Thị Vẹn, ấp Thanh Tùng, xã Biển Bạch, chuẩn bị 25 lu chứa nước mưa nhưng vẫn không đủ xài – Ảnh: THANH HUYỀN

Đài khí tượng thủy văn Nam Bộ cho biết khu vực tiếp tục có nắng nóng diện rộng, có nơi nắng nóng gay gắt. Nhiệt độ cao nhất từ 35 – 37 oC, có nơi trên 37 oC. Dự báo, nắng nóng trên khu vực Nam Bộ tiếp tục kéo dài trong nhiều ngày tới. Cùng với đó xâm nhập mặn ở ĐBSCL có xu thế tăng dần vào cuối tuần (theo chu kỳ nước lớn vào đầu tháng âm lịch). Độ mặn cao nhất tại các trạm ở mức thấp hơn độ mặn cao nhất tháng 4-2025.

Chiều sâu ranh mặn 4‰ tại các cửa sông chính ở mức: sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây phạm vi xâm nhập mặn 40 – 50km; sông Cửa Tiểu, Cửa Đại 20 – 25km; sông Hàm Luông 25 – 32km; sông Cổ Chiên 20 – 25km; sông Hậu 25 – 32km; sông Cái Lớn 20 – 28km.

Các địa phương cần tranh thủ tích trữ nước ngọt khi triều thấp phục vụ nông nghiệp và dân sinh. Nhận định chung tình hình xâm nhập mặn năm nay sẽ thấp hơn mùa khô năm 2025. Các đợt xâm nhập mặn tăng cao khả năng tập trung trong tháng 4 (từ ngày 18 đến 21-4)

Khi nước mặn trở thành cơ hội?

Giữa những khó khăn, một hướng đi mới đang dần rõ nét: không chống mặn bằng mọi giá, mà học cách sống chung và khai thác nó.

Theo ông Phạm Văn Mười – Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Cà Mau, hạn mặn tại địa phương diễn ra theo chu kỳ khoảng 4 năm, với những đợt gay gắt như 2015 – 2016, 2019 – 2020 và 2023 – 2024.

Bước vào mùa khô 2026, dù dự báo không cực đoan như trước, nhưng mặn vẫn có thể xâm nhập sâu 40 – 60km. Trong bối cảnh đó, ngành nông nghiệp đã chủ động xây dựng các kịch bản ứng phó, đồng thời điều chỉnh lịch thời vụ, theo dõi ranh mặn để “né mặn” hiệu quả. Không chỉ dừng lại ở giải pháp trước mắt, tỉnh Cà Mau đang chuyển mạnh sang tư duy sản xuất thuận thiên. “Chúng tôi định hướng từ sản xuất đảm bảo an ninh lương thực sang sản xuất hàng hóa quy mô lớn, đa dạng và thích ứng với biến đổi khí hậu” – ông Mười nói.

Thực tế sản xuất đã chứng minh hướng đi này là đúng đắn. Tại xã Trí Phải, ông Nguyễn Minh Chiến với hơn 2ha đất đã áp dụng mô hình lúa – tôm nhiều năm qua. Mùa khô, ông Chiến nuôi tôm sú kết hợp cua, cá; mùa mưa, ông rửa mặn đồng ruộng để trồng lúa và nuôi tôm càng xanh. Nhờ canh tác gần như không sử dụng hóa chất, chi phí giảm, sản phẩm sạch nên bán được giá cao, mang lại thu nhập khoảng 150 triệu đồng/ha/năm.

Ở xã Nguyễn Phích, ông Lương Thanh Tiền với 4ha lúa – tôm thu về hơn 500 triệu đồng mỗi năm nhờ kết hợp nhiều đối tượng nuôi. Trong khi đó, ông Huỳnh Minh Hoàng với 6ha đất lại chọn cách nuôi tôm càng xanh linh hoạt theo hai đợt thu hoạch, giúp tránh bị ép giá, nâng cao hiệu quả kinh tế. Những mô hình này không chỉ mang lại thu nhập cao mà còn tạo ra hệ sinh thái cộng sinh: chất thải từ tôm nuôi dưỡng đất, còn cây lúa lại tạo môi trường tự nhiên cho thủy sản phát triển.

Ông Lê Văn Sử – Phó chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau – cho rằng mô hình lúa – tôm là một giải pháp kinh tế xanh đầy triển vọng, đặc biệt phù hợp với vùng ven biển. Hiện tổng diện tích lúa – tôm của khu vực đạt khoảng 80.000ha, cho thấy sức lan tỏa mạnh mẽ của cách làm thuận thiên.

Không chỉ ở Cà Mau, tại vùng ven biển tỉnh An Giang, người dân cũng đang thích ứng linh hoạt với hạn mặn. Bà Nguyễn Thị Mận – xã Tây Yên – nhớ lại thời điểm người dân từng tranh cãi gay gắt giữa việc chọn “con tôm hay cây lúa”. Nhưng thực tế đã chứng minh, mô hình “con tôm ôm cây lúa” không hề xung đột mà còn bổ trợ cho nhau.

“Sau khi thu hoạch lúa, tôi chờ nước mặn vào rồi nuôi tôm sú, xen canh cua biển. Rơm rạ phân hủy thành thức ăn tự nhiên, giảm chi phí đáng kể. Đến mùa mưa lại quay về trồng lúa, đất càng màu mỡ hơn. Nhờ đó, gia đình không còn nỗi lo hạn mặn, cuộc sống ổn định hơn trước” – bà Mận chia sẻ.

Tương tự, anh Lê Văn Linh – xã Vĩnh Thuận – cho biết trước đây vùng đất bị phèn mặn, làm lúa bấp bênh. Nhưng khi chuyển sang mô hình tôm – lúa, gia đình anh đã vươn lên khá giả. Với 4ha đất, vụ lúa đạt năng suất 8 tấn/ha, còn vụ tôm – cua mang về lợi nhuận hơn 200 triệu đồng mỗi năm.



Đọc tiếp



Về trang Chủ đề

Nguồn: https://tuoitre.vn/mien-tay-song-chung-voi-han-man-khong-chong-man-bang-moi-gia-20260411235616544.htm

TuoiTre Logo

Hello Mình là Cải

Theo dõi
Thông báo của
0 Góp ý
Mới nhất
Cũ nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận

Tin Nóng Hôm Nay