Thứ năm, Tháng hai 26, 2026
HomeSức KhỏeBác sĩ Việt đầu tiên mang hàm giáo sư, 13 lần dựng...

Bác sĩ Việt đầu tiên mang hàm giáo sư, 13 lần dựng Trường Y giữa thời chiến

Theo Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, sau khi chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc (1918), ngày 18/6/1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh đã họp Hội nghị tại Versailles (Pháp).

Trong thành phần tham dự Hội nghị Versailles, bên cạnh các đoàn đại biểu chính thức còn có sự hiện diện của đại diện các dân tộc thuộc địa và bị áp bức.

“Nghe ba tiếng Nguyễn Ái Quốc, tôi rất xúc động”

Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi đó hoạt động ở nước ngoài với tên gọi Nguyễn Tất Thành, đã thay mặt những người Việt Nam yêu nước soạn thảo bản “Yêu sách của nhân dân An Nam”, còn gọi là “Thỉnh nguyện thư của dân tộc An Nam”, bao gồm tám điểm gửi tới hội nghị.

Sự kiện đã tạo tiếng vang lớn trong cộng đồng người Việt đang sinh sống toàn nước Pháp.

Theo cuốn Trí thức tinh hoa Việt Nam đương đại của nhà báo nổi tiếng Hàm Châu (1935-2016), một người lính thợ Việt Nam khi đó đã trao tận tay chàng thanh niên 19 tuổi Hồ Đắc Di tờ báo có nhan đề Ledroit des nations (quyền của các dân tộc), khi đó anh đang theo học trung học tại Bordeaux.

Bác sĩ Việt đầu tiên mang hàm giáo sư, 13 lần dựng Trường Y giữa thời chiến - 1

Bản Yêu sách của nhân dân An Nam gửi tới Hội nghị Versailles, bản tiếng Pháp (Ảnh: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia).

Tuy chưa thấu hiểu những vấn đề chính trị phức tạp, anh vẫn cảm phục lòng quả cảm phi thường của Nguyễn Tất Thành, người chỉ hơn anh 10 tuổi.

Trong hồi ký, GS Hồ Đắc Di kể lại lần đầu gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh tại câu lạc bộ Hội Sinh viên An Nam ở số nhà 15 phố Sommerard, khu Latin: “… Nghe ba tiếng ‘Nguyễn Ái Quốc’, tôi rất xúc động.

Thì ra con người mà tôi vẫn hằng nghe tiếng, vẫn được bạn bè tôi nói đến, người đã cất tiếng nói đanh thép đòi quyền lợi chính đáng của nước Việt Nam, khiến bất cứ người Việt Nam nào cũng cảm thấy tự hào, con người ấy đang ngồi trước mặt tôi kia!”.

Chàng sinh viên y khoa Hồ Đắc Di ngày ấy chưa thể ngờ rằng người cùng sinh hoạt trong câu lạc bộ, với đôi mắt rất sáng, về sau sẽ làm đổi thay vận mệnh của cả dân tộc cũng như cuộc đời chính anh.

Người Việt đầu tiên được phép cầm dao mổ

Sau nhiều năm học tập và tích lũy tri thức ở nước ngoài, năm 1931, khi đang làm trợ lý cho giáo sư Gernet tại Bệnh viện Tenon, bác sĩ Hồ Đắc Di được gia đình gọi về nước để lập gia đình.

Tuy nhiên, bác sĩ Hồ Đắc Di đã rơi vào tâm trạng thất vọng trước môi trường làm việc tại Bệnh viện Huế.

Theo ghi chép đương thời, nhiều bác sĩ người Pháp tỏ thái độ phân biệt với bệnh nhân nghèo và xem nhẹ vai trò của các thầy thuốc người Việt, khiến ông không khỏi bất bình.

Sau một cuộc xung đột với bác sĩ trưởng Normet, ông bị điều chuyển công tác vào Quy Nhơn. Trong tâm trạng uất ức, bác sĩ Hồ Đắc Di từng nghĩ đến việc quay trở lại Pháp để tiếp tục làm việc tại Bệnh viện Tenon cùng GS Gernet, người thầy mà ông hết sức kính trọng.

Bác sĩ Việt đầu tiên mang hàm giáo sư, 13 lần dựng Trường Y giữa thời chiến - 2

Sinh viên Hồ Đắc Di ở Paris năm 1925 (người đứng giữa, phía trước) (Ảnh: Tư liệu).

Thời gian sau, bác sĩ Hồ Đắc Di ra Hà Nội gặp Leroy des Barres, người từng là bác sĩ nội trú tại các bệnh viện ở Pháp, khi đó đang giữ chức Giám đốc Trường Đại học Y – Dược Hà Nội. 

Vị giám đốc này mời bác sĩ Di ra Trường Y làm việc.

Tuy nhiên, bác sĩ Hồ Đắc Di bày tỏ rõ quan điểm: “Nếu không cho tôi cầm dao mổ, thì tôi dứt khoát không làm!”.

Lúc này, trên bản đồ Đông Dương chỉ có hai người được phép cầm dao mổ là Leroy des Barres và Cartoux (phụ tá của ông).

Từ đó, ông vừa giảng dạy tại Trường Y, vừa làm bác sĩ phẫu thuật thường trú tại Bệnh viện Bảo hộ (tiền thân của Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức).

Những năm 1932–1938, bác sĩ Hồ Đắc Di đảm nhiệm phần lớn các ca phẫu thuật cấp cứu tại bệnh viện. Phòng mổ thường xuyên sáng đèn suốt đêm, giấc ngủ của ông nhiều lần bị gián đoạn bởi những cuộc gọi từ sinh viên ngoại trú trực tại các buồng bệnh.

Trước Cách mạng Tháng Tám, Hội đồng giáo sư Trường Đại học Y – Dược Hà Nội, gồm toàn các giáo sư người Pháp, đã lần lượt bầu ông làm phó giáo sư, rồi giáo sư, ông là người Việt đầu tiên được phong hàm giáo sư.

9 năm kháng chiến chống Pháp, 13 lần di chuyển Trường Y

Cách mạng Tháng Tám thành công ngày 19/8/1945, GS Hồ Đắc Di được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ tin tưởng giao nhiều trọng trách.

Ông vừa làm Giám đốc Trường Đại học Y – Dược, vừa giữ chức tổng giám đốc Vụ Đại học, tổng thanh tra Y tế và Giám đốc Bệnh viện Đồn Thủy.

Trong những ngày đầu từ Tân Trào về Bắc Bộ phủ, Bác Hồ thường gọi GS Hồ Đắc Di một cách xã giao là “ngài”, đồng thời mong muốn ông tham gia cùng Chính phủ mới.

Những ngày độc lập ngắn ngủi nhanh chóng qua đi khi thực dân Pháp nổ súng ở miền Nam ngày 23/9, mở đầu cho cuộc xâm lược trở lại nước ta.

Sau lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo và phát đi đêm 19/12/1946 (chính thức phổ biến ngày 20/12/1946), GS Hồ Đắc Di cùng học trò của ông GS Tôn Thất Tùng đã tổ chức cứu chữa thương binh và nhân dân, đồng thời đào tạo cán bộ y tế trong những điều kiện vô cùng thiếu thốn.

Bác sĩ Việt đầu tiên mang hàm giáo sư, 13 lần dựng Trường Y giữa thời chiến - 3

Giáo sư Hồ Đắc Di tại Chiêm Hóa, Tuyên Quang (Ảnh: Tư liệu).

Trong hoàn cảnh chiến tranh khắc nghiệt, ông vẫn kiên quyết duy trì hoạt động của trường Y để phục vụ lâu dài cho cuộc kháng chiến.

Sau khi ổn định chỗ ở và nơi học tập, Trường Y bắt đầu tổ chức kỳ thi tốt nghiệp bác sĩ y khoa năm học 1946-1947.

Trong số 15 sinh viên năm thứ sáu dự thi các môn lâm sàng, phẫu thuật và sản khoa, có 8 người tốt nghiệp. Ngay sau lễ nhận bằng, họ nhanh chóng trở lại đơn vị, tiếp tục công tác cứu chữa thương binh và phục vụ ngoài mặt trận.

Ngày 6/10/1947, lễ khai giảng năm học mới được tổ chức trọng thể tại làng Ải, thuộc Liên khu X. 

Trong diễn văn khai giảng, GS Hồ Đắc Di khẳng định: “Hướng tới tất cả những ai đang chiến đấu cho Tổ quốc được tự do, trường đại học tự hào gửi lời chào anh em thắm thiết và long trọng xin thề quyết bảo vệ nguyên vẹn di sản tinh thần của ông cha…”.

Chỉ một ngày sau, quân Pháp mở cuộc tiến công lên Việt Bắc theo kế hoạch Clos – Clos (bao vây – khép kín) do tướng Valuy, tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương, vạch ra.

Lúc bấy giờ, gia đình các giáo sư Nguyễn Văn Huyên, Hồ Đắc Di và Tôn Thất Tùng sống quây quần bên nhau tại làng Ải. GS Nguyễn Văn Huyên và GS Hồ Đắc Di đều là con rể, còn GS Tôn Thất Tùng là cháu rể của cụ Vi Văn Định (một tri thức yêu nước).

Nhà trường và bệnh viện phân tán ngay tại các kho tàng vào bụi rậm dọc đường cái.

Bác sĩ Việt đầu tiên mang hàm giáo sư, 13 lần dựng Trường Y giữa thời chiến - 4

Gia đình giáo sư Nguyễn Văn Huyên, Hồ Đắc Di và Tôn Thất Tùng trong kháng chiến năm 1948 (Ảnh: Tư liệu).

Chiến dịch Việt Bắc Thu – Đông 1947 kết thúc thắng lợi, quân địch rút về khu vực cầu Đuống. GS Hồ Đắc Di nhận được một mảnh giấy triệu tập lên an toàn khu.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chăm chú lắng nghe, rồi ôn tồn nói: “Nước nhà đang kháng chiến, còn gặp nhiều khó khăn.

Các chú phải tự lực cánh sinh, bàn với anh em để tự tìm cách giải quyết. Chính phủ sẽ cố gắng giúp đỡ. Dù thế nào chăng nữa, ta cũng không thể đóng cửa trường đại học”.

GS Hồ Đắc Di cùng GS Tôn Thất Tùng quyết định chuyển trường về vùng trung du, đặt tại Trung Giáp, tỉnh Phú Thọ, gần mặt trận để thuận lợi phục vụ bộ đội và giúp sinh viên có thêm điều kiện thực hành.

Bác sĩ Việt đầu tiên mang hàm giáo sư, 13 lần dựng Trường Y giữa thời chiến - 5

Giáo sư Hồ Đắc Di (bên phải) và Giáo sư Tôn Thất Tùng trong rừng Chiêm Hoá, Tuyên Quang (Ảnh: Tư liệu).

Ghi nhớ lời căn dặn của Bác Hồ, hai giáo sư đã cùng cán bộ, nhân viên và sinh viên bàn bạc, chủ động tìm cách vượt qua khó khăn, duy trì hoạt động giảng dạy và đào tạo trong hoàn cảnh kháng chiến gian khổ.

Nhưng rồi, vào một buổi sáng, quân Pháp bất ngờ cho lính dù đổ bộ. Thầy thuốc, sinh viên và bệnh nhân buộc phải khẩn trương rút sâu vào rừng, toàn bộ cơ ngơi của nhà trường lại một lần nữa bị địch đốt trụi.

9 năm kháng chiến chống Pháp, Trường Y phải di chuyển 13 lần. Mỗi lần chuyển địa điểm là một lần gần như phải gây dựng lại cơ ngơi, nhưng việc đào tạo cán bộ y tế trình độ cao cho đất nước vẫn không hề gián đoạn, kịp thời đáp ứng nhu cầu của các chiến trường và chiến dịch.

Trong môi trường học tập gian khổ nơi Việt Bắc, nhiều sinh viên Trường Y sau này đã trở thành viện sĩ, giáo sư, bộ trưởng, viện trưởng và những chuyên gia đầu ngành của nền y học Việt Nam.

Bác sĩ Việt đầu tiên mang hàm giáo sư, 13 lần dựng Trường Y giữa thời chiến - 6

Giáo sư Hồ Dắc Di (bên phải) tiếp đón Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Giáo dục Nguyễn Văn Huyên tới thăm Trường đại học Y (Ảnh: Tư liệu).

Năm 1949, tại Hội nghị Y học toàn quốc ở Việt Bắc, GS Di đã viết về nghề y như sau: “Ai muốn gắn bó số phận của mình với cái nghề khó khăn này thì phải tự xác định rằng, trong sứ mạng cao quý ấy, chỗ dành cho trái tim không kém gì chỗ dành cho trí tuệ”.

Bỏ cuộc sống “ô tô, nhà lầu” theo kháng chiến

Sinh ra trong một gia đình danh giá ở Cố đô Huế, nhiều người thân từng giữ chức tổng đốc, thượng thư và có tới 5 nàng dâu là công chúa, vậy mà GS Hồ Đắc Di – Hiệu trưởng người Việt đầu tiên của Trường Y đã tự nguyện bỏ cuộc sống “ô tô, nhà lầu” theo kháng chiến với đồng bào, chiến sĩ giữa rừng sâu. 

Được học tiếng Pháp từ nhỏ, chàng thanh niên Hồ Đắc Di theo học trung học ở Bordeaux, rồi tiếp tục con đường y khoa với gần 13 năm làm bác sĩ nội trú tại các bệnh viện Paris.

Thời điểm đó, có khoảng 1.200 người dự thi nội trú và chỉ đỗ 80 người.

Chàng sinh viên Di quan niệm rằng giảng dạy và nghiên cứu là hai lĩnh vực không thể tách rời, rằng giảng đường chỉ là điểm khởi đầu trước khi bước vào phòng thí nghiệm, đại học không chỉ là nơi truyền đạt những tri thức đã có, mà còn là môi trường sản sinh ra tri thức mới, nơi khoa học được hình thành và phát triển.

Bác sĩ Việt đầu tiên mang hàm giáo sư, 13 lần dựng Trường Y giữa thời chiến - 7

GS Hồ Đắc Di (đứng) phát biểu tại lễ tổng kết năm học của trường Đại học Y năm 1952 (Ảnh: tư liệu).

Ngay trong luận văn tốt nghiệp bác sĩ y khoa, Hồ Đắc Di đã đề xuất một phương pháp mới trong phẫu thuật dạ dày.

Phương pháp này sau đó mang tên ông, được giới chuyên môn thừa nhận và trích dẫn trong nhiều sách chuyên khảo cũng như các tạp chí y học chuyên ngành.

Theo tạp chí y học Hektoen International, Hồ Đắc Di đã đề xuất một phương pháp phẫu thuật dạ dày (nối thông dạ dày – tá tràng) nhằm điều trị hẹp môn vị do loét dạ dày.

Phương pháp này đã thay thế các kỹ thuật trước đó và được áp dụng trong nhiều thập kỷ.

Theo tư liệu của Trường đại học Y Hà Nội, trong số 37 công trình đã công bố của nhà y học Hồ Đắc Di, hiện nay, chỉ mới tìm được 21 công trình.

“Hôm qua tôi đi tu trong chuyên môn, say mê với kỹ thuật; ngày mai tôi sẽ ăn chay, nằm đất trong quần chúng”, trích trong bản báo cáo GS Hồ Ðắc Di gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh sau cuộc chỉnh huấn ở chiến khu Việt Bắc. 

Giáo sư, Bác sĩ Hồ Đắc Di sinh ngày 11/5/1900, ông mất ngày 25/6/1984.

Trong suốt sự nghiệp, ông được trao tặng nhiều phần thưởng và danh hiệu cao quý:

– Huân chương Độc lập hạng Nhất

– Huân chương Kháng chiến hạng Nhất và hạng Ba

– Huân chương Lao Động hạng Nhất và hạng Hai

– Chiến sĩ thi đua toàn quốc (1952 và 1956)

– Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học, công nghệ (1996)

Nguồn: https://dantri.com.vn/suc-khoe/bac-si-viet-dau-tien-mang-ham-giao-su-13-lan-dung-truong-y-giua-thoi-chien-20260224212421741.htm

DanTri Logo

Hello Mình là Cải

Theo dõi
Thông báo của
0 Góp ý
Mới nhất
Cũ nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận

Tin Nóng Hôm Nay