Bộ Công Thương vừa công bố dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định 56/2025 và Nghị định 100/2025 quy định chi tiết một số điều của Luật Điện lực.
Đáng chú ý, đối với các dự án nhiệt điện khí sử dụng LNG nhập khẩu, Bộ Công Thương đề xuất sản lượng điện hợp đồng tối thiểu dài hạn do bên bán điện và bên mua điện thỏa thuận trong hợp đồng mua bán điện, nhưng không thấp hơn 75% sản lượng điện phát bình quân nhiều năm của dự án.
Sản lượng này được áp dụng trong thời gian trả nợ gốc và lãi vay, tối đa không quá 15 năm kể từ khi dự án vận hành và tham gia thị trường điện.
Sau thời hạn trên, sản lượng điện hợp đồng hoặc tỷ lệ điện năng thanh toán theo giá hợp đồng cho các năm còn lại sẽ do các bên tiếp tục đàm phán theo quy định.
Sản lượng điện phát bình quân nhiều năm được xác định theo quy định về phương pháp xác định giá dịch vụ phát điện và nội dung hợp đồng mua bán điện do Bộ trưởng Công Thương ban hành.
Quy định này áp dụng đối với các dự án nhiệt điện khí sử dụng LNG nhập khẩu bắt đầu vận hành phát điện trong giai đoạn từ khi Luật Điện lực 2024 có hiệu lực đến trước ngày 1/1/2031.
Đối với bên phát điện (các chủ đầu tư nhà máy điện khí LNG nhập khẩu sẽ vận hành trong tương lai), Bộ Công Thương cho rằng đề xuất này sẽ giúp họ có thêm cơ sở để ra quyết định đầu tư dự án, thu xếp vốn, đảm bảo dự án được đầu tư hiệu quả và phản ánh đúng quy luật cung – cầu và nhu cầu của hệ thống.
Đối với bên mua điện (EVN và các đơn vị mua buôn điện khác trong tương lai) có thể tăng chi phí mua điện, tuy nhiên Bộ Công Thương cho rằng việc tăng chi phí này là hợp lý, hợp lệ và có thể còn ít hơn chi phí phải trả cho việc thiếu điện khi hệ thống điện không có các nguồn điện chạy nền như điện khí LNG nhập khẩu.
Kho cảng LNG Thị Vải là cảng LNG đầu tiên tại Việt Nam thuộc PV Gas (Ảnh: PV Gas).
Theo Bộ Công Thương, trong quá trình triển khai cơ chế phát triển các dự án nhiệt điện khí sử dụng LNG nhập khẩu tại Nghị định 56/2025 và Nghị định 100/2025, Bộ đã ghi nhận nhiều ý kiến của các chủ đầu tư các dự án nhiệt điện khí LNG và các đơn vị liên quan.
Phần lớn các chủ đầu tư đều có báo cáo về khó khăn và kiến nghị một số nội dung để tháo gỡ, trong đó tập trung vào các nội dung, cơ chế để thực hiện hiệu quả các dự án, bao gồm: Áp dụng cơ chế giá điện 2 thành phần (công suất và điện năng); áp dụng cơ chế cam kết sản lượng điện huy động (bao tiêu).
Đồng thời kiến nghị điều chỉnh quy định về sản lượng điện hợp đồng tối thiểu dài hạn theo hướng cao hơn mức 65% và kéo dài thời gian áp dụng đến 20 hoặc 25 năm (thay vì chỉ áp dụng trong thời hạn không quá 10 năm).
Đối với các kiến nghị này, Bộ Công Thương cho rằng cần thiết rà soát, đề xuất Chính phủ xem xét sửa đổi, bổ sung theo hướng xây dựng cơ chế đặc thù, mang tính đột phá hơn về sản lượng điện hợp đồng tối thiểu dài hạn và thời gian áp dụng đối với các dự án nhiệt điện khí sử dụng LNG nhập khẩu.
Việc này nhằm tháo gỡ khó khăn cho các dự án trên cơ sở tuân thủ quy định pháp luật, phù hợp với chủ trương, định hướng tại Nghị quyết 70, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các bên và hướng tới mục tiêu xuyên suốt là góp phần bảo đảm an ninh năng lượng, bảo đảm cung cấp điện.
Nguồn: https://dantri.com.vn/kinh-doanh/bo-cong-thuong-de-xuat-bao-tieu-dien-khi-lng-len-75-20260120111858727.htm

