
Nhiều doanh nghiệp dệt may đang gặp khó trong việc tìm nguồn cung nguyên phụ liệu – Ảnh: CÔNG TRIỆU
Nhiều doanh nghiệp không dám ký mới hợp đồng vì lo rủi ro. Các cơ quan chức năng đang nỗ lực để đảm bảo tăng trưởng, nhưng cũng cần cơ chế hỗ trợ mạnh mẽ từ Nhà nước.
Doanh nghiệp “phòng thủ”, tìm lối đi mới
Chia sẻ với Tuổi Trẻ, ông Phạm Quang Anh, Giám đốc Công ty TNHH may mặc Dony, cho biết vấn đề lớn nhất hiện nay không phải là giá nguyên liệu cao mà là sự lên xuống liên tục và khó dự báo.
Ông dẫn chứng về một đơn hàng lớn đi châu Phi: Dù khách yêu cầu báo giá để chốt đơn trong một tháng tới, nhưng công ty không dám nhận vì sợ rủi ro. Báo giá cao sợ sẽ mất khách và họ cũng khó chấp nhận, báo giá thấp mà hôm sau nguyên liệu tăng thì doanh nghiệp ôm chắc lỗ nặng. Vì vậy ông đành tìm cách để khách chờ thêm vài tuần để thị trường định hình rõ xu hướng.
Với những đơn hàng đã ký từ trước Tết, doanh nghiệp buộc phải đàm phán chia sẻ rủi ro với đối tác. Ví dụ một đơn hàng đi Mỹ tăng chi phí tới 0,3 USD mỗi sản phẩm, Dony đã thỏa thuận mỗi bên chịu một nửa (0,15 USD), dù điều này khiến lợi nhuận của doanh nghiệp bị sụt giảm mạnh.
Trong bối cảnh thị trường nguyên liệu bất ổn, ông Anh cho biết kế hoạch dài hạn của Dony là ưu tiên mảng gia công. Thay vì tự chủ nguồn nguyên liệu, doanh nghiệp sẽ tập trung vào phần nhân công (khách hàng cung cấp nguyên liệu).
Cách làm này giúp doanh nghiệp không bị ảnh hưởng bởi biến động giá vải, nhựa… đồng thời đảm bảo sản lượng cho xưởng, tránh tình trạng hụt đơn hàng khi khách hàng tạm dừng đặt vì chờ giá.
Một số doanh nghiệp khác cho hay thách thức lớn nhất hiện nay với ngành may không còn nằm ở khâu bán hàng mà là khâu mua hàng nguyên phụ liệu.
Thậm chí nhiều nhà cung cấp hiện nay không còn bán hàng dựa trên “lời hứa” hay hợp đồng trả chậm, mà yêu cầu phải xuống tiền mặt 100% mới giao hàng.
Yếu tố sống còn lúc này là giữ được dòng tiền cho doanh nghiệp. Nhà nước có thể hỗ trợ thông qua việc miễn giảm thuế, gia hạn thời gian đóng thuế hoặc hỗ trợ lãi suất ngân hàng.
Nhà nước cần chú trọng 3 động lực
Căng thẳng tại Trung Đông, đặc biệt liên quan đến Iran, đã khiến thị trường năng lượng biến động mạnh. Trên thị trường chứng khoán, những biến động địa chính trị thường khiến dòng vốn quốc tế trở nên thận trọng hơn, đặc biệt đối với các thị trường mới nổi.
Ông Michael Kokalari, Giám đốc phòng phân tích kinh tế vĩ mô và nghiên cứu thị trường của VinaCapital, cho rằng năm 2026 nền kinh tế Việt Nam đứng trước những kỳ vọng lớn. Sau khi tăng trưởng khoảng 8% trong năm 2025, GDP năm nay có thể đạt khoảng 10%.
Theo ông, triển vọng của năm 2026 được nâng đỡ bởi ba động lực chính là đầu tư hạ tầng, xuất khẩu và cải cách thể chế gắn với khu vực kinh tế tư nhân.
Trong bối cảnh nợ công vẫn ở mức thấp so với nhiều nền kinh tế trong khu vực, Việt Nam còn dư địa tài khóa để thúc đẩy chi tiêu hạ tầng. Tuy nhiên, giá dầu tăng có thể làm gia tăng chi phí vận tải, logistics và sản xuất, kéo theo nguy cơ lạm phát chi phí đẩy. Điều này khiến bài toán điều hành trở nên phức tạp hơn khi vừa duy trì tăng trưởng, vừa giữ ổn định mặt bằng giá.
Nhấn mạnh kỳ vọng vào cải cách thể chế, chuyên gia từ VinaCapital cho rằng các chính những cải cách trong khuôn khổ “Đổi mới 2.0” có thể đóng góp thêm khoảng 2 điểm phần trăm cho tăng trưởng GDP trong dài hạn. Những lĩnh vực mới như trung tâm dữ liệu, phát triển đô thị theo mô hình TOD, năng lượng và tài chính đang mở ra dư địa tăng trưởng mới nhưng đồng thời đòi hỏi một khung thể chế linh hoạt và có khả năng dự báo.
Ở góc nhìn doanh nghiệp, ông Võ Phi Nhật Huy, Chủ tịch HĐQT Công ty CP đầu tư Big Group Holdings, cho rằng nút thắt lớn nhất hiện nay không nằm ở chính sách mà ở chất lượng thực thi thể chế và năng lực quản trị. Nếu không cải thiện tính nhất quán trong thực thi và giảm chi phí tuân thủ, nhiều quyết định đầu tư có thể tiếp tục bị chậm lại. Đặc biệt, đó còn là khả năng bảo vệ người dám nghĩ dám làm.

Đóng gói sản phẩm để xuất khẩu trong Khu chế xuất Tân Thuận (TP.HCM) – Ảnh: QUANG ĐỊNH
Cần nhiều giải pháp đồng bộ, sâu rộng
Nhiều chuyên gia, doanh nhân đề xuất các giải pháp mà Việt Nam từng áp dụng trong các gói hỗ trợ nền kinh tế lúc khó khăn trước đây.
Để doanh nghiệp vượt khó, ông Phạm Quang Anh cho rằng bên cạnh việc Nhà nước đảm bảo nguồn cung các mặt hàng cơ bản như xăng dầu, yếu tố sống còn lúc này là giữ được dòng tiền cho doanh nghiệp.
Nhà nước có thể hỗ trợ thông qua việc miễn giảm thuế, gia hạn thời gian đóng thuế hoặc hỗ trợ lãi suất ngân hàng. Việc có sẵn quỹ tiền mặt giúp doanh nghiệp linh hoạt hơn trong việc thu mua nguyên liệu khi nhà cung cấp yêu cầu thanh toán ngay, đồng thời có nguồn lực để xử lý các biến động bất ngờ.
Ngoài ra, cộng đồng doanh nghiệp cũng mong muốn các thủ tục hành chính được cải thiện, kích hoạt các cơ chế đặc biệt để xử lý nhanh các vướng mắc trong giai đoạn thị trường biến động nhanh như hiện nay.
Ông Phạm Bình An, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM, cho rằng để đạt mục tiêu tăng trưởng cao trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động, TP.HCM cần triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp ngay từ đầu năm.
TP.HCM cần tập trung nguồn lực cho các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia và địa phương, đặc biệt là các dự án giao thông, logistics và các khu công nghệ cao trong vùng kinh tế liên kết như khu vực Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu sau sáp nhập.
Song song đó cần đẩy nhanh tháo gỡ các vướng mắc về thủ tục, đất đai, giải phóng mặt bằng; áp dụng cơ chế đặc thù theo nghị quyết 98 và các điều chỉnh liên quan để rút ngắn thời gian phê duyệt dự án.
TP.HCM cần hỗ trợ doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất ngay trong quý 1 để tận dụng giai đoạn mức thuế 15% của Hoa Kỳ còn hiệu lực tạm thời, trước khi có thể thay đổi sau khoảng 150 ngày. Bên cạnh đó cần đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, tăng cường khai thác các hiệp định thương mại để mở rộng sang EU, Nhật Bản và Hàn Quốc.
TP cũng nên tổ chức sớm các chương trình xúc tiến thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ minh bạch chuỗi cung ứng, hoàn thiện chứng nhận xuất xứ (C/O) để tránh rủi ro bị điều tra chống lẩn tránh thuế. Đồng thời triển khai các chương trình kích cầu tiêu dùng quy mô lớn gắn với các sự kiện mua sắm, lễ hội tại TP.HCM…
Ông An cho rằng TP cần kiểm soát tốt mặt bằng giá để vừa ổn định kinh tế vừa hỗ trợ tiêu dùng nội địa. Đồng thời phải đảm bảo nguồn cung năng lượng ổn định, phối hợp giữa các doanh nghiệp lớn như Petrolimex và Petrovietnam trong việc đảm bảo cung ứng xăng dầu, khí đốt.
Các giải pháp như kích hoạt dự trữ năng lượng chiến lược, tìm nguồn cung thay thế khi cần thiết, giám sát giá cả và kêu gọi tiết kiệm năng lượng cũng cần được tính đến.
Những rủi ro cần theo dõi
Theo tiến sĩ Chu Thanh Tuấn, Phó chủ nhiệm nhóm ngành cử nhân kinh doanh của Đại học RMIT, các diễn biến gần đây trên thị trường năng lượng cho thấy mức độ nhạy cảm của nền kinh tế Việt Nam trước các cú sốc bên ngoài. Vì vậy, Việt Nam cần duy trì kỷ luật tài khóa và giám sát chặt, đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng.
Báo cáo chiến lược 2026 của VinaCapital cho thấy bức tranh tăng trưởng của Việt Nam không hoàn toàn đồng đều. Tiêu dùng nội địa, khu vực chiếm hơn 60% GDP, vẫn phục hồi chậm khi xu hướng tăng tiết kiệm của các hộ gia đình kéo dài sau đại dịch.
Một rủi ro khác nằm ở thanh khoản hệ thống ngân hàng. Năm 2025, tăng trưởng tín dụng đạt khoảng 19% trong khi huy động vốn chỉ tăng khoảng 15%, tạo ra khoảng cách đáng kể (khoảng 40 tỉ USD). Sự mất cân đối này đã khiến lãi suất tiền gửi tăng và có thể tiếp tục nhích lên trong năm 2026.
Đọc tiếp
Về trang Chủ đề
Nguồn: https://tuoitre.vn/can-goi-giai-phap-ho-tro-nen-kinh-te-20260316081814518.htm


