
Hai bồn chứa Ethanol 100 đang được bơm trộn ra xăng E10 tại kho A, Tổng kho xăng dầu Nhà Bè, TP.HCM – Ảnh: T.T.D.
Việc chuyển sang sử dụng hoàn toàn xăng sinh học E5 RON92 và E10 RON95 từ ngày 1-6 không chỉ là bước đi nhằm giảm phát thải và thúc đẩy kinh tế xanh, mà còn mở ra cơ hội ổn định đầu ra cho nông sản, giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, tăng cường an ninh năng lượng quốc gia.
Trong nhiều năm qua, nhiên liệu sinh học được xem là một trong những giải pháp quan trọng để các quốc gia giảm phụ thuộc vào dầu mỏ và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.
Với Việt Nam, nơi có lợi thế lớn về nguồn sinh khối nông nghiệp, việc thúc đẩy xăng sinh học không chỉ là câu chuyện môi trường mà còn liên quan trực tiếp đến sinh kế nông dân, cán cân thương mại và chiến lược năng lượng dài hạn.
Bước ngoặt của thị trường xăng dầu
Ngày 11-3, tại hội nghị phổ biến thông tư số 50/2025 với chủ đề “Triển khai lộ trình phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống trong thời kỳ mới”, do Bộ Công Thương tổ chức ở TP.HCM, TS Đào Duy Anh, Phó cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương), cho biết từ ngày 1-6 tới, xăng khoáng truyền thống sẽ không còn được phép lưu hành trên thị trường.
Theo lộ trình này, tất cả xăng phân phối cho phương tiện động cơ xăng tại Việt Nam sẽ phải chuyển sang xăng sinh học. Thị trường chỉ còn hai mặt hàng chính là xăng E5 RON92 và xăng E10 RON95. Riêng đối với một số phương tiện đời cũ, chưa tương thích với xăng E10 RON95 và xăng E5 RON92 sẽ tiếp tục được duy trì như một giải pháp chuyển tiếp đến năm 2030.
Để giảm áp lực nguồn cung và tạo sự chủ động cho thị trường, Bộ Công Thương khuyến khích các doanh nghiệp đủ điều kiện kỹ thuật triển khai xăng sinh học sớm từ ngày 1-5-2026. Các đoàn kiểm tra của cơ quan quản lý cũng sẽ tiến hành rà soát công tác chuẩn bị của doanh nghiệp ngay từ cuối tháng 3-2026 nhằm đảm bảo việc chuyển đổi diễn ra đồng bộ.
TS Đào Duy Anh nhấn mạnh việc thúc đẩy nhiên liệu sinh học là một bước quan trọng trong quá trình chuyển đổi năng lượng xanh và giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch. Khi tỉ lệ nhiên liệu sinh học trong xăng tăng lên, mức độ phụ thuộc vào xăng dầu truyền thống sẽ giảm tương ứng. Chẳng hạn, nếu sử dụng rộng rãi xăng E10, có thể giảm khoảng 10% lượng nhiên liệu hóa thạch trong tiêu thụ xăng. Nếu tiến tới E20, mức giảm có thể đạt khoảng 20%.
Theo ông Duy Anh, việc phát triển nhiên liệu sinh học không chỉ nhằm giảm phát thải khí nhà kính mà còn góp phần tăng tính chủ động về nguồn cung năng lượng. Cụ thể, nếu xăng sinh học được đưa vào sử dụng, mỗi năm nước ta có thể giảm được 1 triệu m3 xăng khoáng.
Nếu triển khai rộng rãi xăng E5 và E10, trong vòng một năm Việt Nam có thể giảm khoảng 2,5 triệu tấn CO₂ phát thải ra môi trường. “Đó là những con số ý nghĩa. Cùng với đó, chúng ta sẽ giảm được một phần lệ thuộc vào xăng khoáng truyền thống, nhiên liệu hóa thạch, nhất là trong bối cảnh chiến sự ở khu vực Trung Đông khiến cho tình hình căng thẳng xăng dầu trên toàn thế giới thêm trầm trọng”, ông Duy Anh nói.
Vì vậy, theo ông Duy Anh, các giải pháp thay thế nói chung, trong đó có giải pháp sử dụng nhiên liệu sinh học ngoài ý nghĩa về mặt môi trường mà còn giúp chúng ta giảm sự lệ thuộc vào xăng khoáng đang có nhiều nguy cơ tiềm ẩn, đứt gãy chuỗi cung ứng.

Các chuyên gia khẳng định việc đưa vào sử dụng xăng sinh học sẽ tạo ra lợi ích nhiều mặt – Ảnh: HỮU HẠNH
Mở lối cho nông sản
Trong khi đó, ông Đỗ Văn Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam, cho rằng lộ trình mới có thể tạo động lực để khôi phục ngành sản xuất ethanol trong nước sau nhiều năm trầm lắng.
Việt Nam đang có 6 nhà máy sản xuất ethanol, gồm hai nhà máy thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và bốn nhà máy của khu vực tư nhân. Sau giai đoạn nhiều cơ sở phải dừng hoạt động từ năm 2018 do thị trường tiêu thụ hạn chế, các nhà máy đang bắt đầu chuẩn bị khởi động trở lại để cung cấp nguyên liệu phối trộn cho thị trường xăng sinh học.
Theo ông Tuấn, với phần lớn các nước trên thế giới, từ Mỹ, khu vực châu Âu, Brazil, Ấn Độ, Thái Lan, Philippines…, việc sử dụng nhiên liệu sinh học ngoài ý nghĩa bảo vệ môi trường còn có ý nghĩa chiến lược quan trọng hơn đó là giải quyết đầu ra cho nông nghiệp. Đơn cử tại Mỹ, phần lớn sản lượng ngô của Mỹ được dùng cho việc sản xuất ethanol, phần còn lại mới để dành cho ngành chăn nuôi.
Vì thế, ông Tuấn khẳng định một trong những ý nghĩa chiến lược của chương trình xăng sinh học là tạo đầu ra ổn định cho nông sản, đặc biệt là cây sắn. Mỗi năm Việt Nam xuất khẩu khoảng 5 triệu tấn sắn sang Trung Quốc. Tuy nhiên, thị trường này thường xuyên biến động, khiến nông dân nhiều lần rơi vào cảnh “được mùa rớt giá”.
Việc phát triển nhiên liệu sinh học sẽ giúp hình thành một thị trường tiêu thụ nội địa đủ lớn để ổn định sản xuất nông nghiệp. “Khi quy mô thị trường đủ lớn, nông dân sẽ yên tâm đầu tư mở rộng sản xuất và doanh nghiệp cũng có động lực phát triển chuỗi chế biến sâu”, ông Tuấn khẳng định.
Bên cạnh lợi ích cho nông nghiệp, theo các chuyên gia, xăng sinh học còn góp phần tăng cường an ninh năng lượng. Việt Nam đang tiêu thụ khoảng 1 triệu m3 xăng mỗi tháng, cần khoảng 100.000m3 ethanol. Trong khi Việt Nam vẫn phải nhập khẩu khoảng 30% xăng thành phẩm.
Và một phần lớn nguồn dầu thô phục vụ sản xuất trong nước lại đến từ khu vực Trung Đông – nơi thường xuyên tiềm ẩn những rủi ro địa chính trị. “Việc phát triển nhiên liệu sinh học vì vậy được xem là một giải pháp giúp đa dạng hóa nguồn cung năng lượng, giảm sự phụ thuộc vào dầu mỏ nhập khẩu”, một chuyên gia nói.
Đặc biệt, theo các chuyên gia, một trong những lý do để Việt Nam thúc đẩy quá trình phổ quát sử dụng nhiên liệu sinh học còn đến từ quá trình đàm phán thương mại giữa Việt Nam và Mỹ. Việc nhập khẩu ethanol từ Mỹ, quốc gia sản xuất nhiên liệu sinh học lớn nhất thế giới cũng có thể giúp cân bằng cán cân thương mại song phương.
“Chương trình nhiên liệu sinh học là bài toán bền vững lâu dài, vừa giảm phụ thuộc vào xăng khoáng vừa giải quyết đầu ra cho nông sản Việt, đảm bảo cân bằng thương mại Việt – Mỹ, bảo vệ môi trường và giảm phát thải. Chưa kể nếu nhập khẩu ethanol từ Mỹ, tuyến vận tải này khá bền vững, mang tính ổn định cao”, ông Tuấn nhấn mạnh.
Phát triển xăng sinh học từ cánh đồng
Theo TS Seksan Phrommanich, đại diện Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Thái, nước này đã xây dựng thành công thị trường xăng sinh học dựa trên mô hình kinh tế Bio-Circular-Green (BCG). Các loại xăng E10 đang chiếm hơn 80% thị phần tại Thái Lan, nên xăng sinh học đã trở thành một phần quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của nước này.
Theo TS Seksan, ethanol có chỉ số octane tự nhiên rất cao, khoảng 108 RON, giúp cải thiện hiệu suất động cơ và hạn chế hiện tượng kích nổ. Quan trọng hơn, ngành công nghiệp ethanol của Thái Lan được phát triển gắn với khu vực nông nghiệp, sử dụng chủ yếu nguyên liệu từ sắn và mía đường.
Nhờ đó, lĩnh vực này đang đảm bảo sinh kế cho hơn 1,2 triệu hộ nông dân, đồng thời tạo ra khoảng 700.000 việc làm trong toàn bộ chuỗi cung ứng từ vùng nguyên liệu đến sản xuất và phân phối nhiên liệu.
Bên cạnh nhiên liệu cho giao thông đường bộ, Thái Lan cũng đang mở rộng ứng dụng ethanol sang sản xuất nhiên liệu hàng không bền vững và các loại hóa chất sinh học, hướng tới xây dựng một nền công nghiệp sinh học có giá trị gia tăng cao.
Đọc tiếp
Về trang Chủ đề
Nguồn: https://tuoitre.vn/chi-con-xang-e5-ron92-va-e10-ron95-giam-le-thuoc-vao-dau-mo-mo-dau-ra-cho-nong-san-20260311224624917.htm

