Chủ Nhật, Tháng ba 8, 2026
HomeKinh DoanhCho vay không còn 'hái ra tiền' với ngân hàng, vì đâu...

Cho vay không còn ‘hái ra tiền’ với ngân hàng, vì đâu ‘người giàu cũng khóc’?

ngân hàng - Ảnh 1.

Mặt bằng lãi suất đầu ra phải duy trì thấp để hỗ trợ nền kinh tế – Ảnh: QUANG ĐỊNH

Áp lực với ngân hàng không chỉ đến từ đầu ra, tức lãi suất cho vay thấp, mà đang dịch dần sang đầu vào, khi nhu cầu huy động vốn trở nên “căng” hơn.

NIM toàn ngành ngân hàng tiếp tục sụt giảm khi chi phí vốn tăng nhanh

NIM (Net Interest Margin – biên lãi ròng) là chỉ số tài chính đo lường sự chênh lệch giữa thu nhập lãi (từ cho vay, đầu tư) và chi phí lãi (trả cho tiền gửi).

Nhìn vào dữ liệu toàn ngành, xu hướng suy giảm NIM kéo dài đến hết quý 4-2025 với mức 3,03%, thấp hơn đáng kể so với mức 3,36% cùng kỳ năm trước.

ngân hàng - Ảnh 2.

Xu hướng NIM toàn ngành tiếp tục phá đáy – Nguồn: Widata

Quan trọng hơn, hiệu suất tài sản sinh lãi (YEA) chỉ còn 6,42%, thấp hơn 6,67% của cùng kỳ và là vùng thấp nhất trong khoảng một thập niên, trong khi chi phí vốn (COF) đã nhích lên 3,68%, cao hơn cả quý 3 lẫn cùng kỳ.

Điều này cho thấy lãi suất cho vay có thể đã gần chạm đáy, nhưng NIM vẫn chưa dễ tạo đáy vì phần đầu vào đang trở nên đắt đỏ hơn. 

Nói cách khác áp lực lớn nhất của ngân hàng lúc này không còn là cho vay rẻ đến đâu, mà là phải huy động vốn với giá nào để giữ nhịp tăng trưởng tín dụng.

Diễn biến này cũng không xảy ra đồng đều giữa các nhóm ngân hàng. Khối quốc doanh tiếp tục có NIM thấp nhất, chỉ quanh 2,4% cuối năm 2025, do phải duy trì vai trò dẫn vốn cho nền kinh tế nên biên lãi đầu ra bị ép xuống nhanh hơn khả năng tiết giảm chi phí vốn.

Trong khi đó nhóm ngân hàng bán lẻ lại là nhóm giảm mạnh nhất, khi NIM lùi từ 4,26% cuối năm 2024 xuống 3,74% vào cuối năm 2025.

Nguyên nhân nằm ở việc các ngân hàng này không còn giữ được lợi thế lớn ở tín dụng cá nhân như giai đoạn trước, mà phải dịch chuyển dần sang cho vay doanh nghiệp, nơi biên lợi nhuận thấp hơn.

Ngay cả những ngân hàng vốn nổi bật về NIM như VPB, VIB hay TPB cũng chứng kiến mức co hẹp đáng kể, cho thấy lợi thế bán lẻ không còn đủ để chống đỡ khi cầu tiêu dùng hồi phục chậm và cạnh tranh lãi suất trở nên gay gắt hơn.

Ở một góc nhìn sâu hơn, xu hướng NIM giảm phản ánh sự thay đổi của chính cấu trúc kinh doanh ngân hàng. Trong giai đoạn lãi suất cao, ngân hàng có thể bảo vệ biên lãi nhờ khoảng chênh lớn giữa lãi suất cho vay và chi phí huy động.

Nhưng ở giai đoạn hiện tại, khi lãi suất cho vay đã hạ xuống vùng thấp để hỗ trợ tăng trưởng, dư địa giảm tiếp gần như không còn nhiều.

Áp lực huy động vốn đã bắt đầu quay lại. Điều này khiến biên lợi nhuận của ngành bị nén ở cả hai phía.

Những ngân hàng có CASA (tiền gửi không kỳ hạn) cao, hệ sinh thái khách hàng mạnh hoặc khả năng bán chéo tốt sẽ chống chịu tốt hơn, còn những ngân hàng phụ thuộc lớn vào huy động kỳ hạn dài và tín dụng bán lẻ truyền thống sẽ dễ bị tổn thương hơn.

Vì vậy câu hỏi lớn nhất của năm 2026 không phải NIM đã chạm đáy chưa, mà là ngân hàng nào đủ năng lực giữ NIM ổn định khi chi phí vốn đang bước vào chu kỳ tăng mới.

LDR vùng cao nhất cho thấy áp lực thanh khoản là rất lớn

Các chỉ số thanh khoản, đặc biệt là LDR (tỉ lệ cho vay trên tiền gửi) đều cho thấy xu hướng tăng mạnh trong năm 2025 ở phần lớn các ngân hàng. Điều này khiến sự cạnh tranh thu hút nguồn vốn trở nên gay gắt hơn, kéo theo việc lãi suất huy động tăng nhẹ vào những tháng cuối năm.

Diễn biến này thể hiện rõ nhất ở các kỳ hạn dưới 6 tháng, nhóm kỳ hạn phản ứng nhanh với thay đổi của thị trường.

Cho vay không còn 'hái ra tiền' với ngân hàng, vì đâu 'người giàu cũng khóc'? - Ảnh 3.

Ước tính tỉ lệ LDR theo thông tư 22 của các ngân hàng lớn tại cuối năm 2025

So với đầu năm, mặt bằng lãi suất tiền gửi tại nhiều ngân hàng đã tăng lên đáng kể. Việc lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh đầu tháng 2, khiến Ngân hàng Nhà nước phải bơm lượng lớn thanh khoản để kiểm soát, cũng xuất phát từ việc tỉ lệ LDR căng cứng ở phần lớn các ngân hàng.

Bên cạnh khối ngân hàng quốc doanh, các ngân hàng tập trung cho vay bán lẻ cũng nằm trong nhóm có tỉ lệ LDR cao nhất hệ thống. Do tốc độ huy động vốn không bắt kịp nhu cầu, áp lực lên tỉ lệ LDR vẫn lớn.

Để đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động cho vay cuối năm, các ngân hàng bán lẻ thường tiên phong điều chỉnh lãi suất huy động. Cơ cấu nguồn huy động của các ngân hàng bán lẻ khác biệt khá rõ với các ngân hàng quốc doanh và những ngân hàng chuyên cho vay doanh nghiệp.

Trong khi hai nhóm sau chủ yếu cấp vốn cho các tập đoàn kinh tế lớn hoặc các hệ sinh thái doanh nghiệp, giữ được dòng tiền xoay vòng trong hệ thống, thì khối ngân hàng bán lẻ lại chủ yếu huy động từ cá nhân có tiền nhàn rỗi. Chính vì vậy, chi phí vốn của nhóm này cũng đối mặt với áp lực cao hơn.

Đây cũng là lý do LDR cao và NIM giảm thực chất là hai mặt của cùng một vấn đề. Khi ngân hàng đẩy tín dụng nhanh hơn tốc độ tăng tiền gửi, họ buộc phải chấp nhận lãi suất huy động cao hơn để giữ nguồn vốn, hoặc tăng vay trên thị trường liên ngân hàng và phát hành giấy tờ có giá.

Dù đi bằng con đường nào, giá vốn cuối cùng vẫn bị kéo lên. Trường hợp Techcombank là một điểm đối chiếu đáng chú ý: cuối năm 2025 ngân hàng này có LDR khoảng 76,5%, thấp hơn khá xa ngưỡng 85%, nhờ đó dư địa thanh khoản vẫn thoải mái hơn nhiều tổ chức khác.

Ngược lại các ngân hàng có LDR gần chạm mức quy định sẽ khó tránh áp lực phải nâng lãi suất huy động nếu vẫn muốn duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng cao.

Vì vậy LDR cao không chỉ là câu chuyện thanh khoản, mà còn là biến số quyết định việc NIM còn co hẹp bao nhiêu trong những quý tới.

Tăng trưởng tín dụng chưa chắc tăng trưởng hiệu quả

Nhìn tổng thể ngành ngân hàng đang đi vào một giai đoạn mà tăng trưởng tín dụng chưa chắc đồng nghĩa với tăng trưởng hiệu quả.

Thay vì kỳ vọng NIM sớm bật tăng trở lại, có lẽ hợp lý hơn khi nhìn nhận năm 2026 là giai đoạn các ngân hàng phải chấp nhận sống chung với NIM thấp hơn, trong khi LDR cao sẽ tiếp tục là sức ép âm thầm nhưng rất quan trọng lên toàn ngành.

 - Ảnh 2.Cổ phiếu ngân hàng suy yếu giữa cơn sóng dầu khí

Trong bối cảnh giá năng lượng tăng mạnh do căng thẳng địa chính trị tại eo biển Hormuz, nhóm dầu khí và phân bón – hóa chất trở thành tâm điểm dòng tiền. Ngược lại, cổ phiếu ngân hàng, nhóm có ảnh hưởng lớn nhất tới thị trường, lại suy yếu.



Đọc tiếp



Về trang Chủ đề

Nguồn: https://tuoitre.vn/cho-vay-khong-con-hai-ra-tien-voi-ngan-hang-vi-dau-nguoi-giau-cung-khoc-20260308112049813.htm

TuoiTre Logo

Hello Mình là Cải

Theo dõi
Thông báo của
0 Góp ý
Mới nhất
Cũ nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận

Tin Nóng Hôm Nay