
Drone Vatomus khung gập hiệu năng cao do Saolatek (Khu công nghệ cao TP.HCM) thiết kế, sản xuất dòng công nghiệp dùng trong dân dụng, giải trí, quay phim, giao hàng… – Ảnh: QUANG ĐỊNH
Trong bài phát biểu nhậm chức trước Quốc hội ngày 7-4 vừa qua, Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh Chính phủ xác định phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, động lực chính, động lực mới để đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân trên 10% trong giai đoạn 2026 – 2030.
Trao đổi với Tuổi Trẻ về vấn đề này, ông Võ Xuân Hoài – Phó giám đốc Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia, Bộ Tài chính – cho rằng Việt Nam có nhiều thế mạnh nổi bật để phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và ưu tiên của Chính phủ hoàn toàn có cơ sở để thực hiện.

* Thưa ông, ông đánh giá thế nào về tiềm năng phát triển các ngành công nghệ mới như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), sản xuất UAV trong thời gian tới?
– Đây là 3 ngành mà chúng ta đã dành sự quan tâm lớn để thúc đẩy phát triển.
Thủ tướng đã ban hành quyết định 1131 xác định rõ danh mục các ngành công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược, bao gồm 11 nhóm công nghệ, sản phẩm chiến lược như AI; công nghệ điện toán đám mây, lượng tử, dữ liệu lớn; công nghệ blockchain; công nghệ mạng di động thế hệ sau 5G, 6G; công nghệ robot và tự động hóa; công nghệ chip bán dẫn; công nghệ y – sinh học tiên tiến; công nghệ năng lượng và vật liệu tiên tiến; công nghệ đất hiếm; an ninh mạng; và công nghệ hàng không vũ trụ.
Trong đó, ngành công nghệ chip bán dẫn hiện nay cả nước có khoảng 50 công ty thiết kế, 15 công ty hoạt động trong lĩnh vực đóng gói, kiểm thử, sản xuất vật liệu bán dẫn. Các doanh nghiệp trong nước có thế mạnh rất lớn về thiết kế chip bán dẫn, còn sản xuất chip bán dẫn hiện có Viettel đã khởi công xây dựng nhà máy đúc chip.
Các doanh nghiệp trong nước hoàn toàn có thể tham gia sâu vào khâu thiết kế của chuỗi sản xuất cung ứng chip toàn cầu. Đặc biệt là các dòng chip chuyên dụng về AI, Iot (Internet vạn vật). Điều này cho thấy sự tăng trưởng nhanh của ngành này trong thời gian qua.
Với lĩnh vực phát triển AI, Việt Nam có cộng đồng kỹ sư về công nghệ thông tin khá tốt, sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng, chi phí cạnh tranh toàn cầu. Thời gian qua, dưới sự chỉ đạo quyết liệt của Tổng Bí thư, Thủ tướng, sự vào cuộc của các bộ, ngành, doanh nghiệp, chúng ta đang cùng nhau xây dựng hệ thống dữ liệu để phát triển AI.
Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia cũng đang phối hợp với các tập đoàn NVIDIA, Beta và các trường đại học, viện nghiên cứu để xây dựng bộ dữ liệu tiếng Việt mở, giúp mọi người có thể sử dụng được để phát triển AI.
Cũng trong lĩnh vực này, nhiều doanh nghiệp FDI lớn và một số doanh nghiệp trong nước đang tham gia phát triển hạ tầng công nghệ, hạ tầng tính toán phục vụ phát triển AI. Trên thực tế việc ứng dụng AI trong các lĩnh vực tài chính, y tế, giải quyết dịch vụ công ở nước ta thời gian qua khá phổ biến.
Còn trong sản xuất UAV, Việt Nam là quốc gia có thế mạnh lớn về nông nghiệp, thời gian qua nhiều doanh nghiệp đã đẩy mạnh việc ứng dụng UAV trong sản xuất nông nghiệp thông minh. Một số doanh nghiệp cũng bắt đầu sử dụng UAV trong hoạt động giao vận, logistics, giám sát rừng…
* Đóng góp của các ngành công nghệ chiến lược, công nghệ mới với tăng trưởng GDP trong thời gian tới sẽ thế nào, thưa ông?
– Chính phủ đặt mục tiêu giai đoạn 2024 – 2030 doanh thu ngành công nghiệp bán dẫn Việt Nam đạt 25 tỉ USD/năm, giai đoạn 2030 – 2040 đạt 50 tỉ USD/năm, giai đoạn 2040 – 2050 đạt trên 100 tỉ USD/năm. Tuy nhiên, tốc độ phát triển của ngành công nghiệp bán dẫn toàn cầu rất nhanh, doanh thu toàn ngành bán dẫn toàn cầu năm 2025 đạt khoảng 791 tỉ USD, tăng 25% so với năm 2024, vượt xa dự báo ban đầu.
Điều đáng lưu ý là phát triển công nghiệp bán dẫn trong nước là phát triển công nghệ lõi, tác động trực tiếp tới phát triển của các ngành công nghiệp điện tử, sản xuất ô tô, phát triển AI… nên sẽ có tác động rất lớn tới phát triển kinh tế đất nước.
Tương tự, việc phát triển AI sẽ đem lại thay đổi lớn trong sản xuất, cải thiện năng suất lao động thông qua việc giảm sử dụng lao động, tiết kiệm chi phí sản xuất. Còn phát triển UAV sẽ vừa phục vụ phát triển kinh tế, xuất khẩu thu về ngoại tệ, vừa góp phần bảo đảm quốc phòng an ninh.
Doanh thu từ ngành sản xuất UAV là rất lớn, NIC vừa thăm một doanh nghiệp người Việt chuyên sản xuất thiết bị phát hiện UAV, doanh thu đạt hàng năm nay của doanh nghiệp tại Mỹ lên tới 1 tỉ USD.
* Phát triển các ngành công nghệ mới, có hàm lượng công nghệ cao thường gắn với các doanh nghiệp khởi nghiệp, chúng ta cần làm gì để hỗ trợ lực lượng này?
– Tôi cho rằng thúc đẩy đổi mới sáng tạo và hỗ trợ khởi nghiệp sẽ là nhiệm vụ quan trọng của Chính phủ nhiệm kỳ mới. Để hiện thực hóa điều này cần có sự đột phá về thể chế hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp vươn lên.
Hiện chúng ta đã có nghị quyết 57, Chính phủ cũng ban hành nghị quyết 86 là những định hướng rất tốt. Tuy nhiên, điều này cần được cụ thể bằng những cơ chế đột phá.
Chủ trương, định hướng của chúng ta rất cạnh tranh so với các quốc gia trong khu vực nhưng chúng ta thiếu những chính sách cụ thể nên vẫn còn những vướng mắc, dẫn tới chưa có được nhiều sản phẩm khởi nghiệp.
Cần tạo lập những cơ chế, chính sách cụ thể theo hướng giúp nhà khoa học dám bước ra khỏi vùng an toàn để tham gia vào câu chuyện đổi mới sáng tạo sản phẩm, lập ra các doanh nghiệp khởi nghiệp. Không gian thể chế với khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số phải là không gian mở.
Ví dụ tại Mỹ có những bang chuyên biệt như Nevada, California có cơ chế mở, chấp nhận cho doanh nghiệp được tự sáng tạo sản phẩm, miễn là không vi phạm pháp luật chung, sau 5 – 10 năm họ mới đưa ra các hành lang pháp lý để kiểm soát.
Chẳng hạn trong lĩnh vực phát triển AI, chúng ta có rất nhiều người trẻ tài năng nhưng họ chuyển ra nước ngoài lập doanh nghiệp khởi nghiệp vì sang đó họ thuận lợi hơn trong việc gọi vốn, cơ chế chính sách ở nước ngoài cũng không quá ràng buộc nên họ phát triển được sản phẩm. Trong khi, phát triển AI được ứng dụng toàn cầu nên doanh nghiệp ở đâu cũng làm được.
Vì thế, để giữ chân người trẻ, hỗ trợ họ khởi nghiệp trong nước, chúng ta cần có chính sách hỗ trợ họ kêu gọi vốn, đồng thời lựa chọn các lĩnh vực trọng yếu để ưu tiên phát triển. Theo đó, các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo cần được ưu tiên giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân để hỗ trợ họ trong giai đoạn đầu khởi nghiệp.
Ngoài ra, cần xây dựng hành lang pháp lý riêng để hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo theo hướng tối giản các thủ tục pháp lý. Xây dựng chương trình quốc gia để thúc đẩy phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo.

Phối cảnh nhà máy chế tạo chip bán dẫn đầu tiên tại Việt Nam sau khi hoàn thiện – Ảnh: Viettel
* PGS.TS Phùng Thế Đông (chuyên gia kinh tế, Bộ Tài chính):
Ngoài phát triển công nghệ, vẫn phải làm tốt đầu tư công
Bên cạnh động lực mới là thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, thúc đẩy chuyển đổi số để nâng cao năng suất lao động, tạo ra giá trị gia tăng cao hơn, mục tiêu tăng trưởng 2 con số của năm nay và cả giai đoạn 2026-2030 chỉ đạt được trong bối cảnh rất thuận lợi. Đó là giá dầu hạ nhanh hơn, lạm phát được neo thấp, đầu tư công bứt tốc mạnh, xuất khẩu duy trì nhịp cao và khu vực chế biến, chế tạo tăng tốc.
Với mức tăng trưởng 7,83% trong quý 1-2026, để cả năm 2026 đạt tăng trưởng khoảng 10% thì ba quý còn lại phải tăng bình quân xấp xỉ 10,7%. Do đó, kịch bản tăng trưởng GDP trên 10% được xem là kịch bản phấn đấu có điều kiện.
Và để thực hiện kịch bản tăng trưởng 2 con số, chính sách điều hành không thể đi theo quán tính thông thường mà phải chuyển sang trạng thái tăng tốc có điều kiện, trong đó mục tiêu tăng trưởng cao phải đi cùng kiểm soát lạm phát và giữ ổn định vĩ mô.
Chính sách tài khóa phải đóng vai trò dẫn dắt tăng trưởng, trọng tâm là đẩy nhanh giải ngân đầu tư công theo hướng tập trung vào các dự án hạ tầng có khả năng hấp thụ vốn và tạo hiệu ứng lan tỏa nhanh cho xây dựng, vật liệu, logistics, công nghiệp hỗ trợ và dịch vụ liên quan.
Ngoài ra, chính sách tiền tệ cần linh hoạt nhưng không nới lỏng đại trà. Với thực tế CPI tháng 3 đã lên 4,65% và lạm phát quý 1-2026 ở mức 3,51%, định hướng phù hợp là giữ thanh khoản hệ thống ổn định, kiểm soát mặt bằng lãi suất, nhưng tập trung tín dụng vào khu vực tạo ra sản lượng thực như chế biến chế tạo, xuất khẩu, nông nghiệp, hạ tầng, doanh nghiệp nhỏ và vừa, thay vì bơm tín dụng dàn trải.
Nếu muốn tiến tới vùng tăng trưởng trên 10%, CPI bình quân năm cần được giữ chủ yếu trong vùng khoảng 3,6-4%. Vì vậy, Chính phủ cần xây dựng kịch bản điều hành giá xăng dầu, điện, y tế, giáo dục và dịch vụ công theo nguyên tắc tránh cộng hưởng vào cùng thời điểm. Đồng thời sẵn sàng sử dụng linh hoạt các công cụ thuế, phí hoặc quỹ bình ổn phù hợp để hạn chế tác động sốc khi giá dầu thô duy trì ở mức cao.
Một điểm đáng lưu ý khác là phải kích hoạt đồng thời ba động lực tăng trưởng thực: xuất khẩu, chế biến chế tạo và cầu nội địa.
Về xuất khẩu, cần tận dụng mạnh các FTA, mở rộng thị trường, giảm thời gian thông quan, hỗ trợ logistics và xúc tiến thương mại cho các nhóm hàng có khả năng tăng nhanh.
Về công nghiệp chế biến chế tạo, cần ưu tiên tháo gỡ đầu vào, đơn hàng, tín dụng và chuỗi cung ứng cho các ngành điện tử, máy móc, dệt may, da giày, chế biến nông sản. Về cầu nội địa, cần gắn kích cầu tiêu dùng với du lịch, thương mại, dịch vụ và phục hồi sức mua thực, thay vì chỉ trông vào tăng tín dụng.
* TS Nguyễn Quốc Việt (chuyên gia kinh tế, Trường đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội):
Tăng đầu tư, cải thiện hiệu quả đầu ra của đề tài nghiên cứu

Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị đã đặt mục tiêu kinh phí chi cho nghiên cứu phát triển (R&D) khoảng 2% GDP, trong đó kinh phí từ xã hội hơn 60%.
Hằng năm, bố trí ít nhất 3% tổng chi ngân sách cho phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và tăng dần theo yêu cầu phát triển.
Mức chi cho nghiên cứu phát triển của Chính phủ năm nay đã tăng đáng kể so với trước đây, khoảng 3% tổng chi ngân sách.
Tuy vậy, kinh nghiệm của các quốc gia phát triển cho thấy để đạt tốc độ tăng trưởng cao dài hạn, thoát được bẫy thu nhập trung bình thì đầu tư cho R&D từ 4 – 5% GDP.
Vấn đề đặt ra là việc chi ngân sách cho phát triển khoa học công nghệ, thúc đẩy chuyển đối số phải trúng, đúng và có hiệu quả thực tế. Nhiều địa phương đang đẩy nhanh việc đặt hàng nghiên cứu với khoản kinh phí tăng gấp nhiều lần so với trước đây nhưng điều quan trọng là phải đánh giá được hiệu quả đầu ra của các đề tài nghiên cứu, tác động của đề tài nghiên cứu với tăng trưởng kinh tế.
Cần thay đổi quản trị hoạt động đầu tư cho khoa học công nghệ dựa trên kết quả đầu ra, chứ không nên duy trì cách quản trị hành chính lâu nay.
Việt Nam có lợi thế nào?
Theo ông Võ Xuân Hoài, Việt Nam có những lợi thế để có thể bứt phá về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong những năm tới gồm:
– Dân số còn trẻ, đam mê steam, hệ thống giáo dục khá tốt, nhiều người trẻ có năng lực, đây là yếu tố quan trọng nhất để phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
– Việt Nam cũng có quy mô thị trường tương đối lớn, hơn 100 triệu dân, là lợi thế so với nhiều quốc gia Đông Nam Á trong thử nghiệm, thương mại hóa các sản phẩm trong lĩnh vực đổi mới sáng tạo.
– Chúng ta cũng đang đẩy mạnh hợp tác quốc tế, nâng cấp lên mức đối tác chiến lược toàn diện với hầu hết các quốc gia có nền khoa học công nghệ phát triển.
– Đặc biệt, Bộ Chính trị đã ban hành nghị quyết 57 về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia với nhiều cơ chế, chính sách ưu đãi phát triển vượt trội.
Đọc tiếp
Về trang Chủ đề
Nguồn: https://tuoitre.vn/dua-doi-moi-sang-tao-thanh-dong-luc-tang-truong-moi-20260413083136299.htm

