Thứ sáu, Tháng Một 16, 2026
HomeKinh DoanhGiải bài toán 'nhân lực vàng' thất nghiệp: Kết nối cung

Giải bài toán ‘nhân lực vàng’ thất nghiệp: Kết nối cung

Đào tạo lệch pha với thị trường

Nói về tỷ lệ thất nghiệp tăng cao hiện nay, Th.S, nghiên cứu sinh Quản trị nguồn nhân lực hiện đại Phạm Mạnh Khôi (ĐH UCSI, Malaysia) cho rằng mạng xã hội đang tạo ra ảo tưởng “việc nhẹ, lương cao” cho không ít người trẻ. Chỉ cần quay video, chạy tiếp thị liên kết, nhiều nội dung mô tả thu nhập hàng chục, hàng trăm triệu đồng mỗi tháng khiến kỳ vọng của nhiều người bị đẩy lên rất cao, thiếu thực tế. Họ không muốn vào môi trường văn phòng đòi hỏi sự kỷ luật, kiên nhẫn. Trong khi đó, với sinh viên mới ra trường, mức thu nhập cao như mạng xã hội mô tả chỉ là số rất hiếm. Một nguyên nhân khác đến từ chính phía doanh nghiệp (DN). Trong thời gian dài, nhiều DN xem thực tập sinh là lao động giá rẻ, thậm chí trả lương 0 đồng. “Sinh viên học hành nhiều năm, gia đình đầu tư lớn, ra trường nhận lương 0 đồng trong khi làm freelance lại có thể kiếm 10 – 20 triệu đồng mỗi tháng, thì tâm lý so sánh là điều dễ hiểu”, ông Khôi nói. Bên cạnh đó, hệ thống đào tạo, đặc biệt ở một số trường ngoài công lập, chạy theo chỉ tiêu tuyển sinh nhưng chưa xác định rõ sinh viên ra trường có thể làm được gì. Khoảng cách giữa đào tạo và thực tế ngày càng lớn.

 Giải bài toán 'nhân lực vàng' thất nghiệp: Kết nối cung - cầu trên thị trường lao động- Ảnh 1.

Mỗi năm Trung tâm dịch vụ việc làm Thanh niên TP.HCM kết nối cho hàng chục nghìn lao động, nhưng tỷ lệ tìm được việc phù hợp chỉ khoảng 30%

PGS-TS Nguyễn Thường Lạng, giảng viên cao cấp ĐH Kinh tế quốc dân, cũng thừa nhận, thị trường lao động VN đang tồn tại nhiều bất cân xứng. Thứ nhất, thông tin thị trường lao động chưa hoàn hảo. DN đưa ra nhiều tiêu chuẩn ràng buộc, trong khi một bộ phận lao động lại muốn làm việc linh hoạt, không đáp ứng được yêu cầu. Thứ hai, giá lao động còn thấp. Nhiều DN trả lương 6 – 7 triệu đồng/tháng, trong khi lao động tự do có thể đạt mức tương đương hoặc cao hơn, lại chủ động thời gian. Thứ ba, mất cân đối cơ cấu đào tạo. Thị trường cần công nhân kỹ thuật, lao động xây dựng, nhưng người học lại tập trung vào quản trị kinh doanh, ngoại ngữ…

“Chúng ta nói cần gần 100.000 kỹ sư AI, nhưng nếu bây giờ mới đào tạo thì phải 5 – 7 năm nữa mới có lực lượng thực sự. Điều đó cho thấy công tác dự báo nhân lực còn rất yếu”, ông Lạng nhận định. Ngoài ra, hướng nghiệp từ phổ thông chưa hiệu quả. Học sinh 14 – 16 tuổi thiếu thông tin về nghề nghiệp, dẫn đến lựa chọn ngành học theo cảm tính. Nhiều lao động nông thôn thấy làm ở nhà thoải mái, thu nhập không chênh lệch nhiều so với lương thấp ở đô thị nên không mặn mà đi làm.

Bà Nguyễn Thị Thanh Thảo, Phó giám đốc Trung tâm dịch vụ việc làm Thanh niên TP.HCM, cũng đưa ra bức tranh thực tế mỗi năm trung tâm kết nối cho hàng chục nghìn lao động nhưng tỷ lệ tìm được việc phù hợp chỉ khoảng 30%. Nguyên nhân chính là sự lệch pha giữa kỳ vọng của người lao động và yêu cầu của DN. DN cần thái độ cầu thị, sẵn sàng học hỏi; trong khi nhiều lao động đặt yêu cầu cao về lương, vị trí, môi trường. Khi hai bên không tìm được điểm chung, thị trường rơi vào trạng thái “cung cầu không gặp nhau”.

Nâng tầm trường nghề, bỏ tư duy “thực tập sinh 0 đồng”

Hình thành sàn lao động linh hoạt là giải pháp hiệu quả, nhưng theo PGS-TS Nguyễn Thường Lạng là chưa đủ. Việc tiếp theo là phải thống kê đầy đủ số lượng lao động trẻ thất nghiệp rơi vào khu vực nào, địa phương nào, độ tuổi nào, lao động bán thời gian, lao động tự do, lao động xe ôm, bốc vác? Từ đó, chính quyền địa phương và cơ quan lao động mới nắm được con số thực, mới phát hiện được sự bất cân xứng giữa các ngành nghề.

Ví dụ, lao động từ các tỉnh, thành xa vào TP.HCM làm việc thì phải có cơ chế bảo đảm nơi ăn chốn ở, điều kiện sinh hoạt. Xuất khẩu lao động cũng phải có DN tuyển dụng, ký hợp đồng rõ ràng. Hay khi có các dự án, công trình lớn được triển khai sẽ kéo theo hàng loạt công việc gián tiếp như bảo vệ, lao động giản đơn, lái xe, quản lý kho, cung ứng chuỗi hàng hóa… Tất cả nhu cầu này phải được thống kê đầy đủ theo từng loại công việc. Các dự án phải công bố rõ số lượng lao động cần tuyển, tiêu chuẩn, lộ trình tuyển dụng theo từng giai đoạn để người lao động có thời gian chuẩn bị. Đồng thời, phải dự báo cơ cấu dân số để chuẩn bị nguồn nhân lực từ sớm. Trong điều kiện số hóa hiện nay, cần xây dựng cơ sở dữ liệu chung để DN và người lao động cùng tiếp cận.

Báo cáo của Cục Thống kê cho thấy trong năm 2025, tình hình lao động, việc làm quý 4 có nhiều dấu hiệu khởi sắc, lực lượng lao động, số người có việc làm cũng như thu nhập bình quân tháng của người lao động đều tăng so với quý trước và tăng so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, con số 1,4 triệu thanh niên không đi học, không đi làm phần nào cho thấy người lao động trẻ đang gặp khó khăn trong tìm kiếm công việc. Điều này đặt ra bài toán cho các cơ quan chức năng cần đẩy mạnh tư vấn, định hướng nghề nghiệp, giới thiệu việc làm sớm cho thanh niên.

Theo ông Phạm Mạnh Khôi, ở cấp vĩ mô, cần điều chỉnh lại “tỷ lệ vàng” trong đào tạo, cân đối giữa cử nhân học thuật, kỹ sư thực hành và công nhân kỹ thuật tay nghề cao. Đồng thời, xóa định kiến “học nghề là thấp”, thậm chí nâng tầm trường nghề thành lựa chọn danh giá. “Xã hội có các giải thưởng trí tuệ như Đường lên đỉnh Olympia thì cũng cần những giải thưởng tôn vinh tay nghề, kỹ thuật để người trẻ thấy được giá trị của lao động kỹ năng”, ông Khôi đề xuất.

Đào tạo phải theo đặt hàng của DN. Trường học cần biết DN cần bao nhiêu người, trình độ ra sao, để xây dựng chương trình phù hợp. DN cũng cần tuyển dụng thực chất, không lạm phát bằng cấp, mô tả công việc đúng bản chất và trả lương tương xứng. Việc trả lương “thực tập sinh 0 đồng” cần được siết chặt bằng quy định pháp luật.

Từ thực tiễn kết nối việc làm, bà Nguyễn Thị Thanh Thảo nhấn mạnh vai trò phối hợp giữa nhà trường, DN và đơn vị giới thiệu việc làm trong xây dựng cơ sở dữ liệu lao động thống nhất. DN cần tham gia sâu hơn vào đào tạo kỹ năng ngay từ khi sinh viên còn ngồi trên ghế nhà trường. Với sinh viên chuẩn bị ra trường năm 2026, bà Thảo khuyến nghị cần chủ động thích nghi, sẵn sàng thử sức ở nhiều vị trí khác nhau để tích lũy kinh nghiệm, thay vì chờ đợi công việc “đúng ngành, đúng mơ ước”. 

Thị trường lao động không thiếu việc, chỉ thiếu sự phù hợp. Người trẻ cần linh hoạt, học hỏi liên tục và chấp nhận bắt đầu từ những vị trí chưa hoàn hảo. Khi dòng chảy nhân lực được khơi thông, cung và cầu gặp nhau ở điểm cân bằng, “nhân lực vàng” mới thực sự trở thành động lực cho phát triển, thay vì tiếp tục bị lãng phí trong nghịch lý thất nghiệp giữa thời kỳ khát lao động.

Nguyễn Thị Thanh Thảo, Phó giám đốc Trung tâm dịch vụ việc làm Thanh niên TP.HCM

Nguồn: https://thanhnien.vn/giai-bai-toan-nhan-luc-vang-that-nghiep-ket-noi-cung-cau-tren-thi-truong-lao-dong-185260115180103474.htm

ThanhNien Logo

Hello Mình là Cải

Theo dõi
Thông báo của
0 Góp ý
Mới nhất
Cũ nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận

Tin Nóng Hôm Nay