Thứ tư, Tháng tư 1, 2026
HomeThời SựGS Hoàng Xuân Sính: Sau khi “gõ cửa” Tổng Bí thư, tôi...

GS Hoàng Xuân Sính: Sau khi “gõ cửa” Tổng Bí thư, tôi không còn đường lui

GS Hoàng Xuân Sính: Sau khi “gõ cửa” Tổng Bí thư, tôi không còn đường lui - 1

Thưa bà, trước khi bắt đầu hành trình đầy gian nan của một người tiên phong trong giáo dục đại học tư thục, bà vốn đã có xuất phát điểm mà nhiều người mơ ước: Một thạc sĩ toán học trở về từ Pháp. Nhìn lại những ngày đầu chọn nghiệp đèn sách, đâu là động lực cho một cô gái trẻ băng qua đại dương, trở về giữa lúc đất nước chìm trong lửa đạn?

Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, Nhà giáo Nhân dân Hoàng Xuân Sính: Năm 1951, tôi được cậu ruột đón sang Pháp theo học tại Đại học Toulouse. Lựa chọn ấy, một phần lớn là nhờ ý chí từ gia đình.

Khi tôi chuẩn bị hành lý lên đường, cha tôi có lẽ phần nào cũng lo lắng chuyện ăn học no đủ rồi ở lại nên luôn răn dạy 7 anh chị em tôi: Đã là con người có ý chí là phải có lòng yêu nước. Mà yêu nước là phải làm việc gì thật cụ thể; muốn xây dựng đất nước, nhất định phải giỏi khoa học tự nhiên.

Sau khi hoàn thành chương trình đại học và bảo vệ thành công bằng Thạc sĩ Toán học tại Pháp, giữa lúc cánh cửa sự nghiệp ở phương Tây đang rộng mở, tôi chọn trở về như một lẽ đương nhiên. Thâm tâm tôi khi đó, chỉ có một ý chí: Về nước, xây dựng đất nước bằng bất cứ giá nào.

Thời đó, bầu không khí xã hội hun đúc nên lòng yêu nước trong trẻo, thiêng liêng đến kỳ lạ. Có thể nhiều bạn trẻ bây giờ cũng khó hình dung cho được trọn vẹn.

Vậy nên, cùng thời đó có nhiều người lựa chọn như tôi, như một lẽ tất yếu của cuộc đời. Chúng tôi tuyệt nhiên không suy nghĩ gì khác.

Vậy vì sao bà lại chọn Đại học Sư phạm?

– Trở về Việt Nam, hành lý không có gì nhiều, đáng kể nhất là hai vali đựng đầy sách. Khi về nước, tôi được ưu ái chọn nơi công tác và mau mắn chọn ĐH Sư phạm Hà Nội. Thú thực, khi đó tôi cứ ngỡ trường sư phạm ở ta cũng sẽ bề thế, uy nghi như bên Pháp.

Nhưng thực tế ập vào mắt mình là những dãy nhà tranh vách đất, ánh điện le lói không đủ soi rõ giáo án. Tôi cùng thầy Nguyễn Cảnh Toàn và các đồng nghiệp miệt mài dạy 30 giờ mỗi tuần. Gian khổ đấy, nhưng không ai kêu ca phàn nàn, vì tâm niệm mình đang xây từng viên gạch cho Tổ quốc ngày mai.

Đã có thời, lòng yêu nước giúp ta miệt mài đi qua gian khó theo những cách khó hình dung nhất.

GS Hoàng Xuân Sính: Sau khi “gõ cửa” Tổng Bí thư, tôi không còn đường lui - 3

Trong hoàn cảnh thiếu thốn ấy, thật khó hình dung bằng cách nào bà có thể hoàn thành bản luận án “Các Gr-phạm trù”, một công trình được đánh giá là đặt nền móng cho toán học hiện đại, lại dưới sự hướng dẫn từ xa của một “thiên tài thế kỷ” như Alexander Grothendieck?

– Đó là những năm tháng chiến tranh khốc liệt. Hà Nội gần như ngày nào cũng rung lên bởi tiếng bom. Để tránh bom đạn, chúng tôi phải sơ tán về nông thôn, sống cùng người dân quê. Những con người xa lạ ấy đã cưu mang, che chở chúng tôi bằng tất cả sự chân thành và ấm áp…

Giữa hoàn cảnh ấy, một lớp học đặc biệt được hình thành, quy tụ giảng viên của nhiều trường đại học tại Hà Nội. Người đứng lớp không ai khác chính là GS Alexander Grothendieck. Trong vòng một tháng, ông giảng cho chúng tôi một khóa hình học cao cấp.

Buổi sáng, ông lên lớp giảng bài. Buổi chiều, ông dành thời gian trao đổi riêng với từng giảng viên. Và chính trong những buổi trao đổi ấy, tôi đã trình bày ý tưởng luận án của mình. Ông lắng nghe, rồi đồng ý gần như ngay lập tức.

Với tôi, GS Grothendieck không chỉ là một nhà toán học vĩ đại, mà còn là một nhà giáo dục kiệt xuất. Ông có khả năng kỳ lạ, biến những khái niệm phức tạp nhất trở nên sáng rõ và gần gũi. Đề tài ông giao cho tôi không chỉ hay, mà còn mở ra một chân trời mới.

Thế nhưng, từ năm 1967 đến 1975, toàn bộ quá trình hướng dẫn của ông với tôi chỉ gói gọn trong… hai lá thư. Một lá gửi đề tài và kế hoạch nghiên cứu. Một lá hồi đáp thư tôi.

Còn tôi, đã gửi cho ông ba lá thư. Lá đầu tiên để xác nhận đã nhận được đề tài. Lá thứ hai là lời cầu cứu, khi tôi gặp phải những bế tắc tưởng chừng không thể vượt qua. Và lá thứ ba, là khi tôi có thể tự mình tháo gỡ được vấn đề.

GS Hoàng Xuân Sính: Sau khi “gõ cửa” Tổng Bí thư, tôi không còn đường lui - 5

Có lúc nào bà nhụt chí, muốn “khó quá bỏ qua” chăng?

– Chiến tranh khiến mọi con đường gần như bị cắt đứt. 200 trang luận án viết tay đã hoàn thành nhưng tôi không biết phải làm gì tiếp theo. May mắn thay, tôi nhận được sự giúp đỡ của GS Laurent Schwartz, một người bạn thân thiết của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, đồng thời cũng là một nhà toán học lớn, từng đoạt Giải Fields.

Khi GS Grothendieck nói rằng ông có một học trò ở Việt Nam nhưng không có cách nào sang Pháp bảo vệ luận án, chính GS Schwartz đã xin cho tôi một suất học bổng, đủ để có một tấm vé máy bay khứ hồi đến Paris, vào năm 1974.

Đó là lúc cánh cửa mở ra nhưng… Khi tôi xin đi, ở nhà một số người chần chừ không muốn. GS Schwartz trực tiếp viết thư gửi Thủ tướng Phạm Văn Đồng, xin cho tôi đi Pháp để bảo vệ luận án và cá nhân ông ấy sẽ bảo đảm vé máy bay, chỗ ăn ở.

Đích thân đại sứ Pháp cấp tốc mang hồ sơ đến Ủy ban Khoa học Nhà nước, đề nghị tôi điền thông tin để mang ngay sang Pháp. Bạn thấy đó, bên cạnh sự tử tế, đó cũng là cách thế giới họ tôn trọng người tài, tôn trọng người làm khoa học.

Tôi bảo vệ luận án tại Đại học Paris 7.

Và điều khiến nhiều người sửng sốt không chỉ là câu chuyện phía sau, mà còn là hội đồng chấm luận án. Có tới 5 nhà toán học hàng đầu thế giới cùng tham gia: GS Laurent Schwartz, GS Alexander Grothendieck – cả hai đều từng đạt Giải Fields, Viện sĩ Cartan – Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Pháp, GS Jean Verdier và GS Zisman.

GS Hoàng Xuân Sính: Sau khi “gõ cửa” Tổng Bí thư, tôi không còn đường lui - 8

Một hội đồng như vậy, gần như chưa từng có tiền lệ.

Nhìn lại, đó không chỉ là hành trình của một luận án. Đó là hành trình của niềm tin, của tri thức vượt qua chiến tranh, và của những con người tử tế, luôn tin rằng ánh sáng của khoa học vẫn có thể nhen lên, ngay giữa những ngày bom đạn dữ dội nhất.

GS Hoàng Xuân Sính: Sau khi “gõ cửa” Tổng Bí thư, tôi không còn đường lui - 9

Thưa Giáo sư, bà từng chia sẻ rằng khi gõ cửa Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh để xin mở trường mà “không xin tiền Nhà nước”, đó là một quyết định ghê gớm lắm trong thời kỳ bao cấp. Lúc đó, điều gì thực sự thôi thúc bà tự đưa mình vào thế “không còn đường lui” như vậy?

– Tháng 7/1975, tôi bảo vệ thành công luận án và trở thành người đầu tiên ra nước ngoài bảo vệ Tiến sĩ Toán học. Tôi trở về, mang theo một ước nguyện: Phải đào tạo được tiến sĩ ngay trên đất Việt, để những thế hệ làm toán sau này không còn phải lặn lội ra nước ngoài trong những điều kiện gian nan như chúng tôi đã trải qua.

Nhưng thực tế của những năm 80 khắc nghiệt hơn mọi hình dung.

Tôi đã chứng kiến những đồng nghiệp của mình, những trí thức tinh hoa, ban ngày giảng đường, ban đêm lặng lẽ đứng trong bóng tối bán chè đỗ đen cho sinh viên. Có người vì mưu sinh mà phải chiên bánh rán, để rồi những giọt dầu mỡ bắn lên, để lại vết bỏng trên ngực. Những hình ảnh ấy khiến tôi không chỉ xót xa, mà còn day dứt đến nhói lòng: Nếu giáo dục không thay đổi, thì tri thức sẽ bị bào mòn bởi chính cuộc mưu sinh.

Giữa lúc ấy, tôi nhận được thư của thầy Bùi Trọng Liễu từ Pháp, đề xuất ý tưởng thành lập một trường đại học tư thục. Lá thư như một mồi lửa. Trong tôi dâng lên một cảm xúc rất khó gọi tên, vừa tự ái, vừa thôi thúc: Người ở xa còn đau đáu nghĩ về giáo dục nước nhà, lẽ nào mình ở đây lại chấp nhận bó tay?

Nhưng con đường không hề dễ dàng. Lá đơn của 5 nhà khoa học gửi lên Bộ Đại học rơi vào im lặng.

GS Hoàng Xuân Sính: Sau khi “gõ cửa” Tổng Bí thư, tôi không còn đường lui - 11

Có lẽ chính cái “liều” của một người làm khoa học đã đẩy tôi bước thêm một bước nữa. Tôi tìm đến phòng Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh. Đứng trước Tổng Bí thư, tôi chỉ xin nói một điều: “Chúng tôi xin mở trường, không xin tiền Nhà nước”.

Tổng Bí thư trầm ngâm rất lâu. Giữa bối cảnh đất nước vừa mới chuyển mình từ bao cấp sang Đổi mới, việc ra đời một thực thể “tư thục” trong giáo dục đại học là chuyện hết sức hệ trọng, chưa có tiền lệ và cần vô vàn sự cân nhắc. Ông nhìn tôi rồi bảo hãy về chờ, ông cần thời gian để suy nghĩ thêm.

Đó là một tuần lễ dài nhất trong cuộc đời tôi. Tôi vừa hy vọng, vừa chuẩn bị tâm lý cho một cái lắc đầu. Đúng một tuần sau, Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng đã chính thức có văn bản gửi về Bộ Giáo dục, thông báo ý kiến chấp thuận của Tổng Bí thư. Một cánh cửa tưởng chừng đóng chặt đã được mở ra như thế.

Đại học Thăng Long ra đời, không phải từ sự đủ đầy, mà từ niềm tin rằng giáo dục Việt Nam phải tự đứng trên đôi chân của mình. Những viên gạch đầu tiên của nền giáo dục đại học tư thục sau này, thực ra đã được đặt xuống từ chính những năm tháng gian khó ấy.

Tôi nhận thấy giữa thế hệ trí thức của bà và các vị lãnh đạo thời kỳ đó có một niềm tin rất lớn dành cho nhau?

– Thời điểm sau ngày đất nước thống nhất, gian nan bộn bề, lãnh đạo Đảng, Nhà nước lại rất gần gũi, cầu thị và tôn trọng ý kiến của trí thức. Chúng tôi thường xuyên được Bộ Chính trị mời lên trao đổi, lắng nghe và góp ý thẳng thắn về tình hình đất nước. Tiếng nói của trí thức được coi trọng và trách nhiệm của mình với đất nước cũng vì thế mà nặng hơn.

GS Hoàng Xuân Sính: Sau khi “gõ cửa” Tổng Bí thư, tôi không còn đường lui - 14

Chính sự gần gũi ấy tạo ra một niềm tin rất đặc biệt. Tin rằng mình nói ra sẽ được lắng nghe. Và cũng tin rằng, mỗi ý kiến, dù nhỏ, nếu đúng đắn và thật lòng, đều có thể góp phần làm thay đổi điều gì đó cho tương lai.

Trong những lần gặp mặt đó, bà đã lựa chọn cách diễn đạt ra sao để vừa giữ được sự thẳng thắn của người làm khoa học, vừa truyền tải được những trăn trở sâu xa về giáo dục và con đường phát triển đất nước?

– Một lần Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đề nghị tôi nêu ý kiến về xây dựng nền giáo dục mới, suy nghĩ nhanh, tôi chọn cách kể một câu chuyện về Napoleon.

Người ta thường nhớ đến Napoleon như một thiên tài quân sự, chính trị. Nhưng ít ai biết, ông cũng là một viện sĩ khoa học. Chính ông là người đặt nền móng cho nhiều trường đại học, viện nghiên cứu lớn đào tạo tinh hoa của nước Pháp, như École Polytechnique.

Trong những chiến dịch của mình, Napoleon luôn mang theo các nhà khoa học. Tại chiến trường Ai Cập, ông giao cho người này nghiên cứu cải tiến đại bác, giao cho người khác nghiên cứu lò nướng bánh, nhiệt độ bao nhiêu, thời gian bao lâu là tốt nhất…

Những nghiên cứu ấy không nằm trên giấy. Nó phục vụ trực tiếp cho đời sống, cho quân đội, cho chiến thắng. Tôi kể câu chuyện đó để nói một điều: Khoa học không thể chỉ dừng lại ở lý thuyết. Giáo dục cũng vậy, phải gắn với thực tiễn, phải phục vụ sự phát triển của đất nước. Nhất định phải như vậy, không thể khác.

Thưa bà, sau thành công của Đại hội Đảng lần thứ XIV và đặc biệt là Nghị quyết 71 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, nhiều người kỳ vọng đây sẽ là một “cú hích” lớn cho hệ thống giáo dục, trong đó có khu vực tư thục. Từ góc nhìn của người đã dành cả cuộc đời để mở đường cho đại học tư thục, bà nhìn thấy cơ hội và cả những điều còn trăn trở gì trong nghị quyết này?

– Về Nghị quyết 71 ấy, phải nói là mọi người trong giới giáo dục mong đợi rất nhiều. Ai cũng thấy đây là một thời cơ mới.

Nghị quyết có đề cập đến tư thục, dù còn khá ngắn gọn. Chẳng hạn như việc tận dụng cơ sở vật chất dôi dư sau sáp nhập để chuyển giao cho khối ngoài công lập. Nghe thì có vẻ là một chi tiết nhỏ, nhưng thực ra lại trúng đúng vào cái “nút thắt” mà chúng tôi đang gặp phải: Cơ sở vật chất luôn là bài toán khó nhất với các trường tư.

Nhưng điều tôi quan tâm hơn cả, không chỉ là những gì đã được viết ra, mà là hướng đi phía trước.

GS Hoàng Xuân Sính: Sau khi “gõ cửa” Tổng Bí thư, tôi không còn đường lui - 15

Hiện nay, cơ hội lớn nhất của giáo dục Việt Nam nằm ở đào tạo công nghệ cao, đặc biệt là công nghệ thông tin, an ninh mạng, bán dẫn. Nếu không nắm bắt được, chúng ta sẽ lại chậm một bước.

Ở Đại học Thăng Long, chúng tôi xác định rất rõ: Phải đi vào những lĩnh vực này, phải mở những chương trình đào tạo chất lượng cao, gắn với nhu cầu thực tiễn và xu hướng phát triển của thế giới.

Tôi vẫn luôn tâm niệm một điều mà đại biểu Quốc hội Phan Thanh Bình từng nói rất đúng: Giáo dục công lập và tư thục phải được nhìn như hai cánh của một con đại bàng. Muốn bay cao, không thể thiếu một cánh nào.

Nghị quyết 71, với tôi, giống như một tín hiệu. Chúng ta phải quyết tâm để biến tín hiệu đó thành hành động.

Từ những câu chuyện như vậy, có thể thấy bà luôn kiên định với quan điểm: Giáo dục phải gắn với thực tiễn, phải phục vụ phát triển quốc gia. Vậy trong hành trình hiện thực hóa quan điểm đó tại Đại học Thăng Long, bà đã gặp những lực cản và những cơ hội như thế nào?

– Giáo dục công lập và tư thục giống như hai cánh của một con đại bàng. Muốn bay cao, không thể thiếu một cánh nào. Điều đó đúng, nhưng để “cánh tư thục” cất cánh thời điểm đó, không hề dễ.

GS Hoàng Xuân Sính: Sau khi “gõ cửa” Tổng Bí thư, tôi không còn đường lui - 18

Tôi gặp những người rất hiểu, rất ủng hộ. Như Bộ trưởng Trần Hồng Quân. Ông nhìn thấy khó khăn của một trường tư thục ngay từ ngày đầu. Thời điểm giữ cương vị Bộ trưởng Giáo dục, ông thường nói với tôi: “Tôi gửi chị số điện thoại riêng của tôi, có chuyện gì chị cứ điện thoại trực tiếp cho tôi”.

Có lần tôi hợp tác với trường ISG Pháp, vị Hiệu trưởng muốn tham gia hội đồng quản trị để có danh nghĩa xin học bổng giúp trường. Nhưng quy định khi đó chưa cho phép người nước ngoài tham gia. Tôi gọi cho ông Quân. Ông nói: “Chị cứ làm đúng, tôi sẽ xử lý”. Vài ngày sau, ông báo: “Xong rồi, chị lên lấy thông tư”.

Hay như trường hợp ông Đỗ Mười, khi còn giữ cương vị Thủ tướng (trước khi trở thành Tổng Bí thư). Việc giao đất cho trường bị chậm trễ trong khi tình thế đã cấp bách, hàng nghìn sinh viên chờ đợi thấp thỏm, chính ông đã trực tiếp gọi điện cho thành phố Hà Nội để thúc đẩy. Những quyết định như vậy, đôi khi chỉ là một cuộc điện thoại, nhưng lại mở ra cả một con đường.

Tôi từng được nghe kể về những ngày giáp Tết thiếu thốn đến mức phải đưa con trai đi bán mảnh vải vốn để dành may quần cho mình, để lo cho trường. Có khi nào bà thoáng nghĩ: Giá như mình chọn một con đường bớt gập ghềnh hơn?

– Một khi đã chọn gõ cửa Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh thì tôi không thể bỏ cuộc được. Không có đường lui, chỉ có thể nỗ lực mỗi ngày.

Có một kỷ niệm mà mỗi lần nhớ lại, tôi vẫn thấy nhói lòng. Cũng vào những ngày cận Tết, tôi đưa cho con trai hai mảnh vải đen mang từ Pháp về, vốn định để may cho mình chiếc quần. Tôi bảo Kim, con trai tôi mang đi bán. Kim đi một lúc, quay về, mắt rưng rưng: “Con chỉ bán được một cái thôi mẹ ạ. Còn cái kia mẹ ra giá cao quá, con không bán được…”.

Thương con thì có, xót xa thì nhiều, nhưng tôi hiểu rằng, mình không có quyền yếu lòng. Những gian nan ấy, suy cho cùng, lại là cách cuộc đời rèn cho mình một sức chịu đựng và một ý chí mà nếu không trải qua, có lẽ cũng không bao giờ có được.

Trường có thể nghèo, người có thể khổ, nhưng tri thức trao cho sinh viên thì không được phép “rẻ đi”.

Bây giờ nhìn lại, tất cả những điều ấy chỉ còn như những bóng mây lướt qua cửa sổ. Nhưng chính những “bóng mây” ấy đã làm nên một quãng đời mà tôi không bao giờ hối tiếc.

GS Hoàng Xuân Sính: Sau khi “gõ cửa” Tổng Bí thư, tôi không còn đường lui - 20

Thưa bà, nhìn lại những quyết định “đi trước một bước” ấy, có khi nào bà cảm thấy mình đã đánh cược quá lớn? Điều gì giúp bà tin rằng những lựa chọn đó là đúng, trong khi thực tế lúc đó còn rất nhiều hoài nghi?

– Nhiều trường đại học tư thục, nếu chỉ dựa vào nguồn lực nhỏ lẻ, phần lớn đều không trụ được. Trường Đại học Thăng Long mà tôi thành lập, tồn tại được và phát triển đến nay là nhờ một điều: Chúng tôi không chỉ nghĩ đến dạy học, mà còn nghĩ đến tương lai dài hạn.

Tôi luôn trăn trở một điều: Một trường đại học không thể chỉ sống dựa vào học phí. Nguồn thu từ sinh viên thực chất chỉ đủ để bộ máy vận hành thường nhật. Muốn vươn tầm, bắt buộc phải có nghiên cứu khoa học, một hành trình đầy tốn kém mà chúng tôi đang quyết liệt triển khai.

Thông thường, ngân sách của trường đại học đến từ học phí, tài trợ của nhà nước, hiến tặng của doanh nghiệp, tiền thu từ nghiên cứu khoa học. Thực tế nghiệt ngã là nhiều trường đại học tại Việt Nam hiện nay gần như chỉ có “độc đạo” học phí, trong khi vẫn gánh nghĩa vụ thuế như doanh nghiệp. Cái vòng xoáy “thu chỉ đủ chi” dẫn tới nơi này nơi khác, cả trường công trường tư, không còn nhiều dư địa cho khoa học, dẫn đến những hệ lụy tuyển sinh bằng mọi giá mà chẳng ai muốn.

Để tháo gỡ, tôi vẫn hằng mong mỏi những cơ chế thực tế từ Nhà nước như cho thuê đất sạch giá ưu đãi, miễn giảm thuế để chúng tôi dồn lực bồi đắp đội ngũ tinh hoa. Chúng tôi đã loay hoay với bài toán này suốt một thời gian dài. Thật may, sự ra đời của các Nghị quyết 57, 59, 66, 68, 71 gần đây chính là luồng sáng, sẽ mang lại lời giải cho bài toán đau đầu hóc búa của chúng tôi.

Ở tuổi đã đi gần trọn một đời với giáo dục, nhìn lại từ những ngày “gõ cửa Bộ Chính trị” đến khi đặt nền móng cho một mô hình đại học mới, bà thấy điều gì là giá trị lớn nhất mình đã góp lại cho giáo dục Việt Nam?

– Đó là câu chuyện có thật về một hành trình mà ở đó, niềm tin vào giáo dục, nếu đủ bền bỉ, có thể đi qua mọi giới hạn.

Trân trọng cảm ơn bà!

Nội dung: Phúc Hưng

Ảnh: Sơn Tùng

Thiết kế: Tuấn Huy

Nguồn: https://dantri.com.vn/giao-duc/gs-hoang-xuan-sinh-sau-khi-go-cua-tong-bi-thu-toi-khong-con-duong-lui-20260331174315250.htm

DanTri Logo

Hello Mình là Cải

Theo dõi
Thông báo của
0 Góp ý
Mới nhất
Cũ nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận

Tin Nóng Hôm Nay