TAND TPHCM đã nhận đơn kháng cáo liên quan vụ tranh chấp hợp đồng mua bán nhà trên đường Độc Lập (phường Phú Thọ Hòa, TPHCM). Vụ việc xoay quanh việc giao dịch mua bán có thật hay chỉ là hình thức che giấu quan hệ vay tiền.
Theo ông P.Q.V. (SN 1972, ngụ phường Phú Thọ Hòa), từ năm 2018, gia đình ông phát sinh các khoản vay lãi suất cao từ bà T.L.A. (SN 1972, bị đơn, cùng ngụ TPHCM).
Đến ngày 15/6/2020, hai bên ký hợp đồng chuyển nhượng căn nhà nhằm làm tài sản bảo đảm cho khoản vay. Tuy nhiên, gia đình ông V. gồm 11 người vẫn tiếp tục sinh sống, kinh doanh tại đây, không thực hiện việc giao nhà, thanh toán tiền mua bán. Ngược lại, bà A. khẳng định đây là giao dịch mua bán thật và đã thanh toán 17,2 tỷ đồng.
Tranh chấp hợp đồng nhà ở với nhiều mức giá và dấu hiệu giao dịch vay mượn (Ảnh minh họa).
Ở sơ thẩm lần 1 (năm 2024), TAND quận Tân Phú (cũ) tuyên ông V. thắng kiện, xác định hợp đồng mua bán là giả cách. Tuy nhiên, tại sơ thẩm lần 2, TAND Khu vực 9 (TPHCM) lại công nhận giao dịch mua bán có thật, bác toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Hai cấp tòa sơ thẩm đưa ra nhận định trái ngược về bản chất giao dịch.
Đáng chú ý, hai bên ký tới 3 hợp đồng với giá trị chênh lệch lớn gồm 19,2 tỷ đồng, 56 tỷ đồng và 5 tỷ đồng. Hợp đồng 19,2 tỷ đồng được bà A. sử dụng để vay 17,2 tỷ đồng từ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu (ACB). Hợp đồng 56 tỷ đồng xuất hiện trong hồ sơ vay vốn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn (SCB), còn hợp đồng 5 tỷ đồng dùng để hoàn tất thủ tục sang tên.
TAND quận Tân Phú cho rằng sự chênh lệch giá trị giữa các hợp đồng không phản ánh giá trị chuyển nhượng thực tế. Bà A. từng thừa nhận việc hạ giá xuống 5 tỷ đồng nhằm “giúp ông V. trốn thuế”, nhưng lập luận này bị bác khi cơ quan thuế xác nhận ông V. thuộc diện miễn thuế.
Hợp đồng 56 tỷ đồng do SCB cung cấp được xem là chứng cứ quan trọng để tòa sơ thẩm lần 1 kết luận giao dịch chỉ nhằm che giấu việc vay nợ.
Tuy nhiên, tại sơ thẩm lần 2, bà A. phủ nhận hợp đồng này, cho rằng chữ ký không phải của mình và giải thích giá 5 tỷ đồng do căn nhà vướng quy hoạch. Tòa chấp nhận lập luận này và không công nhận chứng cứ từ SCB.
Ngoài ra, ông V. còn cung cấp các biên nhận chuyển tiền với nội dung “đóng lãi nhà” kéo dài đến tháng 2/2022. Sơ thẩm lần 1 xem đây là dấu hiệu quan hệ vay mượn, trong khi sơ thẩm lần 2 cho rằng không đủ căn cứ.
Việc gia đình ông V. vẫn sinh sống, kinh doanh tại căn nhà cũng được hai cấp tòa đánh giá khác nhau: một bên cho là bằng chứng giao dịch giả tạo, bên còn lại cho rằng chỉ là vi phạm nghĩa vụ hợp đồng.
Từ đó, bản án sơ thẩm lần 2 bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông V. Không đồng ý, ông đã kháng cáo toàn bộ bản án.
Nguồn: https://dantri.com.vn/phap-luat/mot-can-nha-3-hop-dong-gia-khac-nhau-hai-ban-an-trai-nguoc-o-tphcm-20260331172915359.htm

