Đà tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản chững lại (Ảnh minh họa: Kyodo).
Trong nửa sau thế kỷ XX, Nhật Bản từng được coi là hình mẫu phát triển kinh tế. Từ một quốc gia bại trận sau Thế chiến II, Nhật Bản vươn lên trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới vào cuối thập niên 1980, chỉ đứng sau Mỹ. Các tập đoàn Nhật thống trị nhiều lĩnh vực then chốt như ô tô, điện tử, máy móc chính xác và công nghiệp nặng.
Thuật ngữ “Nhật Bản số 1” từng phản ánh niềm tin rằng Nhật Bản có thể vượt Mỹ về kinh tế.
Tuy nhiên, kể từ khi bong bóng tài sản sụp đổ vào đầu thập niên 1990, nền kinh tế Nhật Bản bước vào giai đoạn mà nhiều nhà kinh tế gọi là “3 thập niên mất mát”. Tăng trưởng thấp, giảm phát dai dẳng, dân số già và cải cách nửa vời đã khiến Nhật Bản dần mất động lực vươn lên.
Nhật Bản liên tục bị các nước, đầu tiên là Trung Quốc vào năm 2010, tiếp đến là Đức vào năm 2023 và sắp tới là Ấn Độ, trong bảng xếp hạng các nền kinh tế lớn nhất thế giới.
Đây không phải là các cú sốc đơn lẻ, mà là kết quả tất yếu của một quá trình suy yếu dài hạn. Điều này phản ánh những vấn đề mang tính cấu trúc sâu sắc, chứ không chỉ là sự dao động ngắn hạn của chu kỳ kinh tế.
Tăng trưởng trì trệ kéo dài sau cú sốc bong bóng tài sản
Nguyên nhân chủ yếu khiến Nhật Bản tụt hạng trong bảng xếp hạng quy mô kinh tế là tốc độ tăng trưởng thấp kéo dài trong suốt hơn 30 năm. Sau khi bong bóng bất động sản và chứng khoán vỡ vào đầu thập niên 1990, nền kinh tế Nhật không bao giờ quay lại được quỹ đạo tăng trưởng cao như trước đó.
Trong khi Mỹ và châu Âu có các chu kỳ suy thoái – phục hồi rõ ràng, Nhật Bản lại rơi vào tình trạng tăng trưởng yếu kéo dài, xen kẽ các giai đoạn giảm phát. GDP thực tế của Nhật Bản vẫn tăng theo thời gian, nhưng rất chậm, khiến khoảng cách với các nền kinh tế tăng trưởng nhanh ngày càng bị thu hẹp hoặc đảo ngược.
Ngược lại, dù cũng đối mặt với già hóa dân số và các cú sốc toàn cầu, Đức, quốc gia đã vượt Nhật để trở thành nền kinh tế lớn thứ ba, vẫn duy trì được tăng trưởng ổn định hơn trong dài hạn, đặc biệt nhờ nền công nghiệp xuất khẩu có giá trị gia tăng cao và khả năng thích ứng tốt trong Liên minh châu Âu.
Vấn đề cốt lõi là kinh tế Nhật Bản không sụp đổ, nhưng cũng không tiến lên đủ nhanh. Trong bảng xếp hạng GDP toàn cầu, việc “đứng yên” đồng nghĩa với việc tụt hạng khi các nước khác tăng trưởng nhanh hơn.
Bẫy giảm phát và chính sách tiền tệ siêu nới lỏng kéo dài
Một đặc điểm hiếm có của kinh tế Nhật Bản là giảm phát kéo dài – hiện tượng giá cả tăng rất thấp hoặc thậm chí giảm trong nhiều năm. Để chống giảm phát, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) đã triển khai chính sách tiền tệ siêu nới lỏng trong thời gian dài chưa từng có: lãi suất gần bằng 0 hoặc âm, mua tài sản quy mô lớn và kiểm soát đường cong lợi suất.
Chính sách này giúp tránh suy thoái sâu, nhưng lại tạo ra hệ quả nghiêm trọng về dài hạn. Đồng yên bị suy yếu mạnh so với USD và euro, đặc biệt trong giai đoạn 2022-2024 khi Mỹ và châu Âu tăng lãi suất để chống lạm phát, Nhật Bản vẫn duy trì chính sách nới lỏng.
Vì GDP danh nghĩa được tính bằng USD trong các bảng xếp hạng toàn cầu, đồng yên mất giá đã trực tiếp “làm nhỏ” quy mô kinh tế Nhật Bản khi quy đổi. Đây là một trong những lý do trực tiếp khiến Nhật Bản bị Đức vượt qua về GDP danh nghĩa.
Nói cách khác, Nhật Bản không chỉ tăng trưởng chậm, mà còn thua thiệt trong cuộc chơi tiền tệ toàn cầu, nơi sức mạnh đồng tiền ảnh hưởng trực tiếp đến thứ hạng kinh tế.
Dân số già và lực lượng lao động thu hẹp
Nhật Bản là một trong những nước có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất thế giới (Ảnh: Xinhua).
Nếu phải chỉ ra một thách thức mang tính “định mệnh” đối với kinh tế Nhật Bản, thì đó chính là dân số già và suy giảm nhanh chóng. Nhật Bản là một trong những quốc gia già nhất thế giới, với tỷ lệ người trên 65 tuổi chiếm gần 30% dân số, trong khi tỷ lệ sinh liên tục ở mức rất thấp.
Hệ quả của xu hướng này là lực lượng lao động giảm cả về số lượng lẫn tỷ lệ trong dân số. Một nền kinh tế với lực lượng lao động suy giảm gần như chắc chắn sẽ gặp khó trong việc duy trì tốc độ tăng trưởng cao, trừ khi năng suất lao động tăng đột phá – điều mà Nhật Bản chưa làm được ở quy mô đủ lớn.
Dân số già cũng kéo theo chi phí phúc lợi xã hội khổng lồ, từ y tế đến lương hưu, khiến ngân sách nhà nước chịu áp lực nặng nề. Chính phủ Nhật Bản buộc phải chi tiêu để duy trì an sinh, thay vì đầu tư mạnh mẽ cho các lĩnh vực tạo động lực tăng trưởng mới.
So sánh với Ấn Độ, quốc gia mới tuyên bố vượt Nhật Bản về quy mô GDP, sự khác biệt là rất rõ ràng. Ấn Độ có dân số trẻ, lực lượng lao động lớn và đang mở rộng, tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh trong nhiều thập niên tới. Trong cuộc cạnh tranh dài hạn, Nhật Bản đang ở thế bất lợi mang tính cấu trúc.
Một đặc điểm khác khiến kinh tế Nhật Bản khó bứt phá là tiêu dùng nội địa yếu kéo dài. Lương thực tế tăng chậm, trong khi chi phí sinh hoạt và thuế tiêu dùng tăng, khiến người dân có xu hướng tiết kiệm thay vì chi tiêu.
Tâm lý tiết kiệm càng được củng cố bởi dân số già, khi người cao tuổi ưu tiên tích lũy hơn là tiêu dùng. Điều này tạo ra vòng luẩn quẩn: tiêu dùng yếu làm doanh nghiệp khó tăng doanh thu, doanh nghiệp không tăng lương, và người dân càng thắt chặt chi tiêu.
Nếu ở Mỹ, tiêu dùng là động lực tăng trưởng chính, hay Ấn Độ có tầng lớp trung lưu mở rộng nhanh, thì Nhật Bản thiếu một động cơ nội địa đủ mạnh để kéo GDP tăng nhanh.
Trong khi đó, dù nổi tiếng với kỷ luật và chất lượng, năng suất lao động của Nhật Bản tăng chậm hơn nhiều nền kinh tế phát triển khác, đặc biệt là Đức và Mỹ. Nhiều doanh nghiệp Nhật Bản vẫn duy trì mô hình quản trị truyền thống, đề cao thâm niên, ổn định và tránh rủi ro, nhưng thiếu linh hoạt trong đổi mới.
Cơ cấu doanh nghiệp với nhiều “công ty xác sống” tồn tại nhờ tín dụng rẻ nhưng kém hiệu quả cũng làm giảm hiệu suất phân bổ nguồn lực của nền kinh tế. Các cải cách nhằm tái cấu trúc doanh nghiệp, thúc đẩy cạnh tranh và đổi mới sáng tạo được thực hiện chậm và thiếu quyết liệt.
Trong khi đó, Đức duy trì được lợi thế về công nghiệp chế tạo cao cấp, tự động hóa, và xuất khẩu máy móc, những lĩnh vực có giá trị gia tăng cao và ít bị cạnh tranh giá rẻ. Điều này giúp Đức tạo ra GDP lớn hơn với dân số nhỏ hơn Nhật Bản.
Sự trỗi dậy của các nền kinh tế khác
Nhật Bản không chỉ suy yếu tương đối vì nội tại, mà còn vì thế giới đã thay đổi. Trung Quốc trỗi dậy mạnh mẽ trong 2 thập niên qua, Ấn Độ đang bước vào giai đoạn tăng trưởng nhanh, và ngay cả Đức cũng hưởng lợi từ vị thế trung tâm trong chuỗi cung ứng châu Âu.
Trong bối cảnh đó, việc Nhật Bản bị soán ngôi không có nghĩa là kinh tế nước này sụp đổ, mà là các nước khác tiến lên nhanh hơn. Thứ hạng kinh tế toàn cầu là một trò chơi có tổng động, và Nhật Bản đã không theo kịp nhịp độ thay đổi.
Việc mất vị trí nền kinh tế lớn thứ hai, thứ ba, rồi thứ tư, mang ý nghĩa biểu tượng lớn, nhưng không phải là toàn bộ câu chuyện. Nhật Bản vẫn là một cường quốc kinh tế với thu nhập bình quân cao, công nghệ tiên tiến và ảnh hưởng lớn trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Tuy nhiên, xu hướng tụt hạng phản ánh rằng mô hình phát triển cũ của Nhật Bản đã tới hạn. Nếu không có cải cách sâu rộng về lao động, nhập cư, đổi mới sáng tạo và cấu trúc doanh nghiệp, Nhật Bản khó có thể lấy lại vị thế cũ trong bảng xếp hạng GDP toàn cầu. Nói cách khác, thách thức với Nhật Bản là làm thế nào để tái định hình mô hình phát triển trong kỷ nguyên mới.
Thế tiến thoái lưỡng nan địa chính trị
Một trong những yếu tố quan trọng tác động đến đà tăng trưởng của Nhật Bản được cho là sự trỗi dậy của nền kinh tế Trung Quốc sau khi được Mỹ và phương Tây “bật đèn xanh”. Quyết định của phương Tây nhằm gắn Trung Quốc vào trật tự toàn cầu, giảm chi phí cho người tiêu dùng phương Tây và tạo đối trọng dài hạn với Nga.
Từ cuối thập niên 1990 và đặc biệt sau khi gia nhập WTO (2001), Trung Quốc được mở cửa thị trường Mỹ – EU, từ đó tăng khả năng hấp thụ FDI, công nghệ và chuỗi sản xuất toàn cầu. Điều này nhanh chóng giúp Trung Quốc trở thành trung tâm sản xuất chi phí thấp quy mô khổng lồ.
Tuy nhiên, điều đó lại kéo theo hệ quả sâu sắc với Nhật Bản. Trung Quốc chiếm lĩnh các ngành mà Nhật Bản từng thống trị từ điện tử tiêu dùng, thép, hóa chất đến máy móc trung cấp. Doanh nghiệp Nhật Bản dịch chuyển sản xuất sang Trung Quốc, làm rỗng công nghiệp trong nước.
Trung Quốc nhanh chóng vượt Nhật Bản về GDP danh nghĩa, sản lượng công nghiệp, xuất khẩu. Từ vị trí số 2 thế giới, Nhật Bản tụt xuống sau Trung Quốc chỉ trong một thập niên.
Trong giai đoạn cạnh tranh Mỹ – Trung gay gắt hiện nay, Nhật Bản tiếp tục “mắc kẹt” khi phụ thuộc an ninh vào Mỹ, phụ thuộc thương mại vào Trung Quốc.
Tình trạng này khiến Nhật Bản tiến thoái lưỡng nan địa chính trị, không thể khai thác toàn diện thị trường Trung Quốc cũng khó tự do định hình chính sách công nghiệp độc lập và bị hạn chế trong các công nghệ nhạy cảm như chip, AI, quốc phòng.
Nguồn: https://dantri.com.vn/the-gioi/nhat-ban-tu-tang-truong-than-ky-den-nen-kinh-te-dung-yen-20260106095126161.htm

