Thứ tư, Tháng hai 18, 2026
HomeThời SựThời bao cấp đã lùi xa

Thời bao cấp đã lùi xa

Trong 40 năm đổi mới, nông nghiệp luôn là trụ cột bền vững cho cả nền kinh tế và cả đất nước trên con đường phát triển, đạt được nhiều thành tựu lớn lao.

Chuyện “Khoán 100”, “Khoán 10”

Tuy nhiên, thành tựu vượt bậc ấy không ngẫu nhiên có được, nó đã trải qua giai đoạn gập ghềnh suốt 2 thập kỷ trước đó gắn với những mô hình “chui” ở Vĩnh Phú (đã sáp nhập vào tỉnh Phú Thọ hiện nay), ở Hải Phòng; gắn với những con người gắn bó máu thịt với nhân dân, với đồng ruộng như cố Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú Kim Ngọc (1917-1979). Là người tiên phong đổi mới, sáng tạo trong nông nghiệp ở Việt Nam, ông được biết đến là một lãnh đạo dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích của nhân dân.

Năm 1966-1967, khi quyết định khoán ruộng, Bí thư Kim Ngọc cũng có cả một quá trình hợp tác hóa nông nghiệp từ những năm 1960, trải qua 5-6 năm hợp tác hóa nhưng kinh tế nông nghiệp ở hợp tác xã chững lại, thậm chí có lúc sa sút. Đời sống người nông dân, xã viên hợp tác xã (HTX) nông nghiệp rất khó khăn, bị bó hẹp trong cơ chế, trong cách thức làm ăn “dong công, phóng điểm”. Quản lý một cách hành chính trong HTX nông nghiệp, dẫn đến hiệu quả kinh tế, năng suất lao động rất thấp, sản xuất nông nghiệp ngày càng sa sút.

Thời bao cấp đã lùi xa  - Ảnh 1.

Tổng Bí thư Trường Chinh với các đại biểu dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI. (Ảnh tư liệu)

Từ thực tiễn ấy, ông Kim Ngọc suy nghĩ phải làm thế nào để cho người nông dân đỡ khổ, làm thế nào để thúc đẩy sản xuất phát triển, để có đóng góp lớn cho đất nước, xây dựng CNXH ở miền Bắc và chi viện cho miền Nam với tinh thần “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, khi thời đó bắt đầu đánh Mỹ rất ác liệt (từ năm 1965). Việc Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc giao khoán ruộng đất cho từng hộ nông dân là quyết định táo bạo và vượt ra phạm vi, khuôn khổ của tư duy, quan điểm, đường lối của Đảng lúc đó. 

Với hành động này, tư duy của ông không bị rập khuôn vào những công thức có sẵn, ông luôn luôn suy nghĩ, trăn trở làm thế nào để sản xuất phát triển thực sự, lấy hiệu quả kinh tế làm thước đo tính đúng đắn của những chủ trương chính sách chứ không phải lấy khuôn mẫu, quan điểm tập thể hóa, hợp tác hóa. Đấy là một sự đáng quý ở người lãnh đạo. Quyết định khoán xuất phát từ sự gắn bó với cơ sở và quan điểm vì dân, làm thế nào để mang lại cuộc sống tốt đẹp cho người dân.

Sau ông Kim Ngọc, sau này lịch sử cũng đã ghi nhận nhiều cá nhân, nhiều mô hình ở Hải Phòng mạnh dạn phá rào, áp dụng khoán “chui”… Những sự việc ấy đã được phản ánh lên Trung ương, các lãnh đạo cấp cao nhất cả nước đều trực tiếp xuống Hải Phòng và ghi nhận hiệu quả tích cực của những cách làm ấy.

Ngày 13-1-1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 100-CT/TW về khoán sản phẩm cây lúa đến nhóm và người lao động, cho phép áp dụng chế độ khoán trong nông nghiệp Việt Nam. Bảy năm sau, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 5-4-1988 về thực hiện chế độ khoán trong nông nghiệp; thừa nhận hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ ở nông thôn. Ngày nay, chúng ta thường nhắc đến “Khoán 100”, “Khoán 10” như những mốc son đổi mới quan trọng của Đảng về cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp ở Việt Nam.

Nghị quyết 10-NQ/TW đã giao khoán đất cho hộ gia đình, tạo động lực cho nông dân đầu tư phát triển sản xuất. Kết quả là sản lượng lúa đã tăng vọt lên 21,5 triệu tấn vào năm 1989. Chỉ một năm trước, cả nước vẫn phải nhập khẩu lương thực thì Việt Nam đã xuất khẩu gạo lần đầu tiên vào tháng 11-1989.

Không chỉ mang lại thành tựu trong nông nghiệp, “Khoán 100”, “Khoán 10” còn là cơ sở, là “nguồn cảm hứng” để Đảng và Nhà nước tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trên tất cả các lĩnh vực, góp phần tạo nên những thành tựu trong công nghiệp, thương mại, dịch vụ… như ngày nay.

TP HCM và tinh thần Võ Văn Kiệt

Trong lúc khoán “chui” đang được áp dụng tại Hải Phòng thì ở TP HCM, đầu tàu kinh tế của cả nước, cũng đang thai nghén những bước đi đầu tiên của sự chuyển mình sau ngày thống nhất đất nước.

Thời bao cấp đã lùi xa  - Ảnh 2.

Những năm cuối thập niên 1970 đầu thập niên 1980 là giai đoạn TP HCM đứng trước những khó khăn, thách thức rất lớn về kinh tế – xã hội. Từ năm 1979 trở đi, kinh tế TP HCM suy giảm, kém phát triển, rơi vào khủng hoảng. Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp giảm sút; thương nghiệp, lưu thông hàng hóa bị ách tắc, thị trường bị gián đoạn, chia cắt. Các nông trường quốc doanh, HTX, tập đoàn sản xuất gặp nhiều khó khăn, sản xuất nông nghiệp không hiệu quả, kém phát triển. Đời sống người dân vô cùng khó khăn. Thiếu gạo, người dân TP HCM khi đó phải ăn độn, có lúc mức độn lên đến hơn 90%. 

Mối quan hệ giữa TP HCM trong sự phát triển kinh tế chung của vùng Nam Bộ bị chia cắt. TP HCM rơi vào hoàn cảnh “bị bao vây, cô lập” về kinh tế. Đảng bộ TP HCM đánh giá: “Tình hình thành phố chưa thật ổn định, cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, đang có nhiều khó khăn rất gay gắt và có mức phức tạp. Nền kinh tế bị đảo lộn, lại quản lý theo một cơ chế có nhiều mặt không phù hợp, cho nên ngày càng thêm mất cân đối nghiêm trọng”.

Trước tình cảnh người dân sinh sống ở “vựa lúa” của cả nước nhưng lại thiếu ăn, phải ăn độn hằng ngày, Bí thư Thành ủy TP HCM Võ Văn Kiệt đã khẳng định: “Không có chủ trương nào của Đảng, Nhà nước làm cho dân đói khổ, cán bộ làm cho dân no lại bị kỷ luật. Còn nếu cấp trên nghiêm, cứng, cứ yêu cầu phải kỷ luật để làm gương thì thà chịu mất chức còn hơn là ngồi đó để nhìn thấy dân mình đói khổ”.

Giải bài toán cơ chế bó buộc, “ngăn sông cấm chợ” những năm sau 1975, vì mục tiêu để người dân không bị thiếu gạo kéo dài, ông Võ Văn Kiệt đã nhiều lần tổ chức gặp gỡ, trao đổi thẳng thắn với cán bộ lãnh đạo các đơn vị chức năng để bàn cách giải quyết lương thực cho dân, với tinh thần “nếu không giải quyết xong, tôi không cho về”, “đưa xe xuống các tỉnh ĐBSCL mua lúa theo giá sát thị trường”…

Bên cạnh bài toán lương thực, ông Sáu Dân luôn suy nghĩ, trăn trở tìm kiếm những phương thức, giải pháp tháo gỡ khó khăn cho các xí nghiệp quốc doanh và trực tiếp xuống cơ sở chỉ đạo nhà máy thuốc lá Vĩnh Hội, dệt Phước Long, dệt Thành Công, bột giặt Viso… mạnh dạn “xé rào”, “cởi trói” bằng các khái niệm mà giới trẻ ngày nay, kể cả các doanh nghiệp, cũng hết sức xa lạ, như “Kế hoạch ba phần”… 

Kế hoạch A (do Nhà nước giao): Sử dụng vật tư do Nhà nước cung cấp và sản phẩm phải nộp lại hoàn toàn cho Nhà nước. Kế hoạch B (tự cân đối): Doanh nghiệp tự khai thác nguồn nguyên liệu, phế liệu hoặc liên doanh liên kết để sản xuất. Sản phẩm thu được sau khi trừ chi phí có thể dùng để trao đổi vật tư hoặc bán cho Nhà nước với giá thỏa thuận. Kế hoạch C (sản xuất phụ): Doanh nghiệp tận dụng năng lực thừa, phế liệu, phế phẩm để sản xuất thêm các mặt hàng phụ ngoài chức năng chính nhằm cải thiện đời sống công nhân viên. Nhờ những kế hoạch kiểu ấy mà nhiều doanh nghiệp lớn đã dần vượt qua khó khăn, vươn lên thành những “sếu đầu đàn” ở giai đoạn đổi mới.

Sau này, những tư duy cải cách, đổi mới đột phá tiếp tục được ông Sáu Dân đưa ra, áp dụng tại Ủy ban Kế hoạch Nhà nước khi ông được Trung ương điều ra làm Chủ nhiệm Ủy ban. Tư duy đổi mới, dám làm, dám chịu nhưng bắt đầu từ sự tìm tòi, nắm bắt thực tiễn, lắng nghe cơ sở tiếp tục đi theo cuộc đời Thủ tướng Võ Văn Kiệt vào lịch sử.

Tổng công trình sư của Đổi mới

Đại hội VI đã mở ra một thời kỳ phát triển mới của đất nước cùng người Tổng Bí thư đổi mới Nguyễn Văn Linh. Tuy nhiên, lịch sử không thể không nhắc đến vai trò của cố Tổng Bí thư Trường Chinh.

Ông là con người của Đổi mới, là “tác giả của Đổi mới”, hay nói chính xác hơn thì phải là “Chủ biên” của Đổi mới (các từ trong ngoặc kép đều là từ của Thủ tướng Võ Văn Kiệt viết trong bài “Đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư của Đổi mới”, NXB Chính trị Quốc gia, năm 2002, trang 40). Ông Võ Văn Kiệt, trong một bài viết khác, còn gọi ông “là vị Tổng công trình sư của công cuộc Đổi mới”.

Vào những năm đầu thập niên 1980, trước cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội trầm trọng, Chủ tịch nước Trường Chinh đã trực tiếp đi thực tế tại các địa phương, lắng nghe những mô hình “khoán” sáng tạo của người dân. Để chuẩn bị cho Đại hội VI, đồng chí Trường Chinh đã đi khảo sát, thực tế tại nhiều địa phương từ miền Nam ra miền Trung và về miền Bắc nhằm tìm ra những bài học thành công và thất bại của cơ sở, phát hiện những yêu cầu và sáng tạo trong nhân dân cả nước, để trên cơ sở đó đổi mới cách nghĩ, cách làm trong xây dựng và phát triển đất nước. Có một số nơi manh nha đổi mới, song để trở thành chủ trương lớn của Đảng về đổi mới thì chưa có. 

Ông Trường Chinh đã thành lập một nhóm gồm những trí thức, nhà khoa học có tư duy đổi mới như Dương Phú Hiệp, Đào Xuân Sâm, Nguyễn Thiệu, Hồng Giao, Trần Ngân, Hà Nghiệp, Võ Đại Lược… để nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn đất nước, làm căn cứ phương pháp luận cho việc đổi mới. Đồng thời, tiến hành khảo sát thực tế tại nhiều địa phương.

Từ đó, ông thừa nhận những sai lầm của mô hình cũ và khẳng định: “Đổi mới là yêu cầu bức thiết, là vấn đề sống còn”. Với cương vị Tổng Bí thư (sau khi Tổng Bí thư Lê Duẩn qua đời ngày 10-7-1986), ông đã chỉ đạo viết lại dự thảo Báo cáo Chính trị theo tinh thần “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”. Ông đề xướng việc xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chuyển sang hạch toán kinh tế và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Dù gặp không ít trở ngại về tư tưởng vào thời điểm đó, ông vẫn quyết tâm thúc đẩy luồng sinh khí mới, giúp Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng và bước vào thời kỳ phát triển.

Hôm nay, đất nước bước vào kỷ nguyên mới, lịch sử mở sang trang mới nhưng những bài học từ lịch sử không bao giờ là cũ.

Nguồn: https://nld.com.vn/thoi-bao-cap-da-lui-xa-196260210095635828.htm

NLD Logo

Hello Mình là Cải

Theo dõi
Thông báo của
0 Góp ý
Mới nhất
Cũ nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận

Tin Nóng Hôm Nay