Đại hội XIV của Đảng là dấu mốc cho giai đoạn phát triển mới của đất nước. Để có được đội ngũ cán bộ ưu tú, tinh anh, tận tâm, tận lực phục vụ sự phát triển của đất nước, Nhân dân thì cần có quy định, cơ chế quản lý rõ ràng, minh bạch, tuân thủ kỷ luật kỷ cương, thực hiện nghiêm trách nhiệm giải trình, ngăn ngừa sự lạm quyền.
Xoay quanh vấn đề này, báo Pháp Luật TP.HCM đã có cuộc trao đổi với PGS-TS Cao Vũ Minh, Trường ĐH Kinh tế – Luật TP.HCM và TS Hồ Ngọc Đăng, khoa Xây dựng Đảng Học viện Cán bộ TP.HCM, để có những góc nhìn đa chiều và sâu sắc hơn.

Tránh tùy tiện khi thực thi công vụ
. Phóng viên: Thưa ông, vai trò của kỷ luật trong Đảng và kỷ luật hành chính hiện nay đối với việc quản lý đội ngũ cán bộ được thể hiện ra sao?
+ PGS-TS Cao Vũ Minh: Kỷ luật là tổng thể các quy định nhằm bảo đảm trật tự, nền nếp hoạt động nội bộ của mọi cơ quan, tổ chức cũng như của xã hội và sự tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định đó.
Đảng Cộng sản Việt Nam là tổ chức thống nhất giữa ý chí và hành động, tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Chính vì vậy, kỷ luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, mang ý nghĩa sống còn. Kỷ luật Đảng là hình thức trách nhiệm chính trị nội bộ được áp dụng đối với các đảng viên trong tổ chức Đảng khi họ có hành vi vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật.
Trong khi đó, kỷ luật hành chính là hậu quả pháp lý bất lợi đối với chủ thể vi phạm kỷ luật, vi phạm các quy tắc và nghĩa vụ trong hoạt động công vụ.
Trong điều kiện chính trị cụ thể của nước ta có duy nhất một chính đảng cầm quyền là Đảng Cộng sản Việt Nam thì kỷ luật Đảng với kỷ luật hành chính có mối quan hệ biện chứng. Cán bộ đa phần là đảng viên nên khi có hành vi vi phạm thì có thể bị xử lý kỷ luật đồng thời cả về Đảng và hành chính.
Các hình thức kỷ luật Đảng không thay thế xử lý kỷ luật hành chính bởi tính chất, ý nghĩa của những loại trách nhiệm này khác nhau. Kỷ luật Đảng là sự cưỡng chế mang tính chính trị, được áp dụng trong khuôn khổ của Đảng. Còn kỷ luật hành chính là dạng trách nhiệm pháp lý, bởi đây là hậu quả bất lợi mà cán bộ phải gánh chịu trước cơ quan, tổ chức khi vi phạm.
+ TS Hồ Ngọc Đăng: Tôi cho rằng kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và hệ thống hành chính nhà nước giữ vai trò đặc biệt quan trọng bảo đảm sự thống nhất, thông suốt của bộ máy lãnh đạo, quản lý.
Đối với Đảng, kỷ luật là sức mạnh, là điều kiện để giữ vững bản chất cách mạng, khoa học và tiên phong. Thực hiện nghiêm kỷ luật, kỷ cương trong Đảng sẽ góp phần giữ vững sự đoàn kết, thống nhất về tư tưởng và hành động, ngăn chặn biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Trong hệ thống hành chính nhà nước, kỷ cương là điều kiện để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và chất lượng phục vụ Nhân dân. Khi kỷ cương được giữ vững, quy trình chuẩn hóa, thẩm quyền và trách nhiệm rõ ràng sẽ khắc phục tình trạng chồng chéo, né tránh trách nhiệm, tùy tiện khi thực thi công vụ. Đây cũng là thước đo quan trọng để đánh giá, xem xét mức độ hoàn thành nhiệm vụ, phẩm chất đạo đức và tinh thần trách nhiệm của cán bộ, công chức.
Khi cơ chế khen thưởng, xử lý kỷ luật được kịp thời, nghiêm minh không chỉ có tác dụng răn đe mà còn tạo động lực để cán bộ yên tâm công tác, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Hình thành cơ chế “3 không”
. Nhiều ý kiến cho rằng kỷ luật không chỉ để xử lý người sai phạm mà còn mang tính giáo dục. Quan điểm của ông về vấn đề này ra sao?
+ PGS-TS Cao Vũ Minh: Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất đề cao vai trò của kỷ luật. Theo Người, thưởng phạt nghiêm minh là điều cần thiết. Với những người có công thì khen thưởng là cần thiết để khuyến khích, động viên. Còn với những “công bộc” của dân nếu không hoàn thành tốt vai trò, chức trách được giao thì phải bị xử lý.
Tuy nhiên, các quy định về kỷ luật Đảng và kỷ luật hành chính còn có tác dụng giáo dục, phòng ngừa vi phạm. Khi bị kỷ luật, cán bộ sẽ nhận thức lại hành vi của mình và lựa chọn cách ứng xử phù hợp hơn trong tương lai. Sự nghiêm minh cũng góp phần răn đe, giúp những cán bộ khác nhìn vào đó mà có thái độ đúng đắn hơn trong hoạt động công.
+ TS Hồ Ngọc Đăng: Thực tế kỷ luật, kỷ cương không chỉ nhằm xử lý vi phạm, mà quan trọng hơn là ngăn ngừa sai phạm ngay từ gốc.
Khi các quy định về quản lý, bổ nhiệm, sử dụng và kiểm soát cán bộ được công khai, minh bạch và thực hiện nghiêm túc, chúng ta sẽ hình thành được cơ chế phòng ngừa hiệu quả, buộc cán bộ “không dám, không thể và không muốn” vi phạm.
“Nhốt quyền lực vào lồng cơ chế”
. Để ngăn chặn tham nhũng, tiêu cực thì một yếu tố rất quan trọng là minh bạch hóa quyền lực và tài sản công. Ông đánh giá thế nào về điều này?
+ PGS-TS Cao Vũ Minh: Do quyền lực có xu hướng bị tha hóa nên dễ dẫn đến tham nhũng, tiêu cực. Quyền lực càng lớn thì khả năng tham nhũng, tiêu cực càng rõ nét. Do đó, mọi vấn đề về quyền lực phải được kiểm soát bằng các quy định của pháp luật để cán bộ không thể vụ lợi.
Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) khẳng định quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Việc bổ sung yếu tố “kiểm soát” là bước tiến lớn trong thể chế hóa các cơ chế “kiểm tra và cân bằng”.
Dù vậy, việc cụ thể hóa thành nguyên tắc kiểm soát các cơ chế hoạt động còn nhiều khó khăn. Vị trí, chức năng, nhiệm vụ cùng mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp vẫn chưa rõ ràng, đặc biệt là kiểm soát quyền lực của cơ quan hành pháp đối với các cơ quan khác và ngược lại. Do vậy, Văn kiện Đại hội XIV tới đây phải tạo ra cơ sở chính trị cao nhất, định hướng cho việc chuyển đổi kiểm soát quyền lực từ lý thuyết sang thực thi.
Minh bạch hóa quyền lực trở thành tiêu chí then chốt, buộc chủ thể mang quyền lực nhà nước phải nghiêm túc thực hiện trách nhiệm giải trình – một cơ chế quan trọng nhằm phòng ngừa sự lạm quyền, tùy tiện. Còn minh bạch dữ liệu tài sản công cũng đóng vai trò quan trọng trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí.
Thực tiễn cho thấy công tác quản lý tài sản công những năm gần đây đã có nhiều chuyển biến tích cực, nhất là sau khi Quốc hội ban hành Nghị quyết 74/2022 về đẩy mạnh thực hiện chính sách, pháp luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và Chính phủ triển khai Đề án tổng kiểm kê tài sản công theo Quyết định 213/2024 của Thủ tướng.
Tôi cho rằng tài sản công không thể là một “vùng trũng” để phát sinh tiêu cực, lợi ích nhóm. Công khai, minh bạch dữ liệu tài sản công sẽ góp phần ngăn chặn các hành vi trục lợi, sử dụng sai mục đích, đồng thời giúp xã hội giám sát tốt hơn quá trình quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.
+ TS Hồ Ngọc Đăng: Tham nhũng, tiêu cực là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ. Do vậy, minh bạch hóa quyền lực là làm rõ phạm vi, quy trình và trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân trong quá trình thực thi. Khi quyền lực được phân công, phân cấp rõ ràng, gắn với cơ chế kiểm soát chặt chẽ, sẽ hạn chế lạm quyền, lợi dụng để trục lợi cá nhân.
Công khai các khâu dễ phát sinh tiêu cực như đấu thầu, đầu tư công, quản lý đất đai, bổ nhiệm cán bộ… cũng là một trong những phương pháp “nhốt quyền lực vào lồng cơ chế”.
Cùng với đó, minh bạch hóa tài sản công là yêu cầu tất yếu để bảo vệ nguồn lực quốc gia. Khi mọi thứ rõ ràng, trách nhiệm giải trình của các cơ quan, tổ chức và người đứng đầu sẽ được nâng lên, hạn chế thất thoát, lãng phí, lợi ích nhóm.
. Xin cảm ơn hai chuyên gia.
Kỷ luật, kỷ cương và minh bạch hóa quyền lực, tài sản công là hai trụ cột chiến lược, có mối quan hệ chặt chẽ, bổ trợ cho nhau. Kỷ luật là nền tảng để bảo đảm quyền lực được thực thi đúng đắn, còn minh bạch là công cụ để củng cố kỷ luật và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
Và thực tiễn cho thấy ở đâu kỷ luật, kỷ cương được giữ vững, quyền lực và tài sản công được minh bạch, ở đó niềm tin của Nhân dân sẽ được củng cố.
TS HỒ NGỌC ĐĂNG
****
Đánh giá cán bộ theo tiêu chí, sản phẩm cụ thể
Theo dự thảo chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ tới là phải đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ.
Trong đó, tiếp tục thực hiện nghiêm quy định về công tác cán bộ như đào tạo, quy hoạch, bổ nhiệm, đánh giá, miễn nhiệm, từ chức, thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu; chú trọng đánh giá cán bộ theo hướng xuyên suốt, liên tục, đa chiều, có tiêu chí và thông qua sản phẩm cụ thể.
Xây dựng cơ sở dữ liệu cán bộ toàn quốc đồng bộ với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Triển khai chiến lược quốc gia về thu hút và trọng dụng nhân tài, nhất là các ngành, lĩnh vực mũi nhọn phục vụ cho phát triển nhanh, bền vững; nghiên cứu cơ chế tạo sự liên thông giữa khu vực công và khu vực tư…
Đổi mới phương thức kiểm tra, giám sát chuyển từ “bị động” sang “chủ động”. Đổi mới, nâng tầm cơ chế giám sát trong Đảng; tăng cường tự kiểm tra, giám sát trong nội bộ ngay từ chi bộ để phòng ngừa, phát hiện vi phạm từ sớm, từ xa…
Dự thảo chương trình cũng đề cập đến việc đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra việc kê khai, công khai tài sản, thu nhập của cán bộ; thực hiện nghiêm túc các quy trình điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng nghiêm trọng, công khai kết quả xử lý. Bên cạnh đó là lập các tổ công tác kiểm tra liên ngành tại những lĩnh vực nhạy cảm, ban hành cơ chế lương, thưởng phù hợp để giảm động cơ tham nhũng.
*****
Tạo “hàng rào kỹ thuật số” ngăn lợi ích nhóm, tham nhũng
Đặt trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và hội nhập quốc tế, yêu cầu cấp bách là phải hoàn thiện cơ chế phòng ngừa tham nhũng theo hướng bảo đảm liêm chính và trách nhiệm giải trình. Đây là hai trụ cột không thể thiếu để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước.
Để làm được điều này thì cần sớm hoàn thiện khung pháp luật, mà trước hết là tiếp tục sửa đổi, bổ sung Luật Phòng, chống tham nhũng theo hướng thiết lập cơ chế kiểm chứng độc lập đối với việc kê khai tài sản, thu nhập. Cơ quan kiểm toán, thanh tra cần có quyền truy cập, xác minh nguồn gốc tài sản.
Tuy nhiên, để việc kê khai tài sản, thu nhập thực sự hiệu quả, luật phải quy định rõ cơ quan nào được quyền xác minh, phạm vi được phép tiếp cận dữ liệu như ngân hàng, thuế, đất đai… Thủ tục kiểm tra phải an toàn, minh bạch để tránh lạm dụng.
Luật cũng cần bổ sung quy định về thu hồi tài sản bất minh, ngay cả trong trường hợp không chứng minh được yếu tố cấu thành tội phạm tham nhũng.
Bên cạnh đó, cần quy định cụ thể hơn về trách nhiệm giải trình. Mỗi quyết định quản lý, mỗi chính sách công đều phải giải trình rõ ràng, có chế tài, xử lý khi giải trình không thỏa đáng.
Tôi cho rằng một hướng đi quan trọng trong cơ chế phòng ngừa tham nhũng là xây dựng Chính phủ điện tử, tiến tới Chính phủ số, với mục tiêu công khai toàn bộ quy trình, thủ tục hành chính trên mạng. Việc này giúp giảm tiếp xúc trực tiếp giữa người dân, doanh nghiệp với công chức, vốn là môi trường dễ nảy sinh nhũng nhiễu.
Mặt khác, công khai, minh bạch ngân sách, đấu thầu, mua sắm công trên các cổng thông tin là biện pháp hữu hiệu để xã hội giám sát. Thực tế hệ thống mạng đấu thầu quốc gia (muasamcong.mpi.gov.vn) đã giúp công khai hàng trăm ngàn gói thầu mỗi năm, góp phần hạn chế tình trạng “chỉ định thầu khép kín” hay “thỏa thuận ngầm”. Đây là bước tiến quan trọng để ngăn chặn lợi ích nhóm trong phân bổ nguồn lực công.
Đặc biệt, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (big data) trong quản lý ngân sách và tài sản công có thể giúp phát hiện sớm dấu hiệu bất thường. Chẳng hạn chi tiêu công vượt định mức, tài sản của cán bộ tăng đột biến hoặc hiện tượng “doanh nghiệp thân hữu” trúng thầu liên tục.
Nhiều quốc gia như Singapore, Hàn Quốc đã triển khai hệ thống phân tích dữ liệu lớn để giám sát chi tiêu công và mang lại hiệu quả rõ rệt. Việt Nam cũng đang thử nghiệm các giải pháp tương tự trong lĩnh vực tài chính – ngân sách và quản lý đất đai.
Tựu trung lại, việc kết hợp số hóa quy trình, công khai dữ liệu công và ứng dụng công nghệ thông minh sẽ tạo ra một “hàng rào kỹ thuật số” vững chắc, góp phần quan trọng vào mục tiêu xây dựng một nền quản trị liêm chính, minh bạch.
TS NGUYỄN HUỲNH BẢO KHÁNH, Trường ĐH Luật TP.HCM
Nguồn: https://plo.vn/trong-dung-nhung-can-bo-trong-sach-va-tai-nang-post890514.html

