Không chỉ ở Thái Nguyên, cách “nuôi rừng” dài hạn ấy đang dần trở thành lựa chọn của nhiều người dân miền núi – những người coi rừng không chỉ là kế sinh nhai, mà còn là gia sản để lại cho con cháu. Ở xã Bảo Ái (tỉnh Lào Cai), nhiều hộ dân đã chọn cách “nuôi” rừng dài hạn để sống được bằng rừng, coi rừng như một thứ của để dành, chứ không phải nguồn thu chụp giật.
Trên sườn đồi thoai thoải, gia đình bà Nguyễn Thị Hà sở hữu hơn 20ha rừng keo, bồ đề trồng theo chu kỳ 10-14 năm. Những lô rừng được chia theo lứa tuổi, cây lớn cây nhỏ đan xen. “Trồng rừng mà nôn nóng thì chỉ đủ tiền công. Để lâu một chút, cây lên gỗ, giá khác hẳn”, bà Hà nói, tay chỉ những thân keo đã bắt đầu đóng lõi.
Theo bà Hà, với diện tích này, mỗi năm gia đình có thể thu về hơn 500 triệu đồng từ rừng, chưa kể những khoản thu lặt vặt từ tỉa thưa, bán cây nhỏ, cành nhánh. “Tiền rừng nuôi được cả nhà, nuôi con ăn học. Có rừng rồi thì không còn nghĩ đến chuyện phá rừng”, bà nói thêm.
Cách làm này cũng được ông Hà Huy Nhã, một hộ trồng rừng lâu năm ở Bảo Ái, lựa chọn. Dưới tán rừng gỗ lớn, ông trồng xen quế, giữ cây to, chỉ khai thác chọn lọc. “Mình không chặt trắng. Cây to để lại, cây vừa thì nuôi thêm. Khi đến tuổi, vừa bán gỗ, vừa bóc vỏ quế dày, giá cao hơn nhiều so với bán non”, ông Nhã chia sẻ.
Theo ông Nhã, làm rừng gỗ lớn không cho tiền ngay, nhưng đổi lại là sự ổn định. “Mỗi lứa rừng là một khoản tích lũy. Lúc cần tiền sửa nhà, lo việc lớn trong gia đình, chỉ cần tỉa một phần là đủ”, ông nói.
Ở Bảo Ái, còn có những chủ rừng đi lên từ kinh tế rừng với tầm nhìn dài hạn, coi rừng là tài sản tích lũy và trách nhiệm cả đời. Một trong những người như vậy là ông Nguyễn Thanh Ngọc – người được các cán bộ lâm nghiệp trong tỉnh nhắc đến như một điển hình trồng rừng gỗ lớn bền bỉ.
Ngày nay nhiều hộ dân lựa chọn “nuôi” rừng dài hạn để có thể sống được bằng rừng, xem rừng như của để dành lâu dài, thay vì nguồn thu mang tính chụp giật, ngắn hạn. (Ảnh: Ngọc Hoan)
Ngày nay nhiều hộ dân lựa chọn “nuôi” rừng dài hạn để có thể sống được bằng rừng, xem rừng như của để dành lâu dài, thay vì nguồn thu mang tính chụp giật, ngắn hạn. (Ảnh: Ngọc Hoan)
Hơn 40 năm trước, khi nhiều khu đồi còn trơ trụi, ông Ngọc – một người lính xuất ngũ – đã bắt đầu vay mượn để trồng rừng. Giai đoạn khó khăn nhất là vừa “nuôi” rừng, vừa lo mưu sinh và nuôi con nhỏ. Ông đi làm thuê khắp nơi, còn vợ ở nhà bám rừng, phát cỏ, chăm cây. Khi rừng lớn dần, ông chọn cách khai thác chọn lọc, lấy ngắn nuôi dài, tuyệt đối không chặt trắng.
Theo ông Ngọc, trồng rừng gỗ lớn không cho tiền nhanh, nhưng càng nuôi lâu càng có giá trị: “Gỗ lớn bán làm gỗ xẻ thì giá cao hơn nhiều so với gỗ dăm, lại chỉ phải đầu tư trồng một lần. Quan trọng hơn là giữ được môi trường và đất rừng”.
Theo chính quyền xã Bảo Ái, toàn xã hiện có hơn 10.000ha rừng sản xuất, trong đó hơn 2.000ha đã được cấp chứng chỉ FSC (một tiêu chuẩn tự nguyện, được Hội đồng Quản lý Rừng (FSC) phát triển nhằm mục đích thúc đẩy quản lý rừng có trách nhiệm trên toàn cầu). Hàng trăm lao động địa phương có việc làm quanh năm, từ trồng, chăm sóc, tỉa thưa đến khai thác và sơ chế.
“Phát triển rừng gỗ lớn là hướng đi chủ lực để nâng cao giá trị rừng trồng. Khi rừng có giá trị cao, người dân sẽ tự giác giữ”, ông Hoàng Quang – Phó Chủ tịch UBND xã Bảo Ái cho biết.
Ở tầm rộng hơn, việc hình thành các cơ sở chế biến sâu đã giúp khép kín chuỗi sinh kế từ rừng. Nhiều doanh nghiệp tại Lào Cai đầu tư nhà máy sản xuất viên nén gỗ, gỗ xẻ, chế biến măng, dược liệu dưới tán rừng. Giá trị của rừng không còn “chảy” ra khỏi địa phương, mà được giữ lại thông qua công ăn việc làm và nguồn thu ổn định.
Theo các cơ quan chuyên môn, trồng rừng gỗ lớn bằng cây bản địa không chỉ là lựa chọn kinh tế, mà là hướng đi căn cơ để phục hồi hệ sinh thái rừng đã suy thoái trong nhiều thập kỷ.
Mô hình rừng gỗ lớn, với cấu trúc gần với diễn thế tự nhiên, đang cho thấy mức độ bền vững vượt trội so với rừng trồng chu kỳ ngắn. (Ảnh: Ngọc Hoan)
Mô hình rừng gỗ lớn, với cấu trúc gần với diễn thế tự nhiên, đang cho thấy mức độ bền vững vượt trội so với rừng trồng chu kỳ ngắn. (Ảnh: Ngọc Hoan)
Ông Nguyễn Thái Sơn, Phó Trưởng phòng Sử dụng và Phát triển rừng, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thái Nguyên, cho rằng các mô hình rừng gỗ lớn mang tính gần với diễn thế tự nhiên đang cho thấy mức độ bền vững vượt trội so với rừng trồng chu kỳ ngắn. “Đây là những khu rừng người dân không có nhu cầu khai thác gỗ sớm. Càng để lâu, giá trị càng tăng, không chỉ từ gỗ mà còn từ lâm sản phụ như hạt dổi”, ông Sơn nói.
Theo ông Sơn, dổi là loài cây bản địa, phù hợp với điều kiện lập địa tại nhiều khu vực trung du, miền núi phía bắc. Khi bước vào giai đoạn ra hoa kết quả, hạt dổi có giá trị kinh tế rất cao, hiện lên tới khoảng 2 triệu đồng/kg. Chính nguồn thu dài hạn này tạo ra động lực tự nhiên để người dân chăm sóc và bảo vệ rừng, thay vì chặt hạ sớm.
“Mô hình rừng gỗ lớn cho phép người dân sống được bằng rừng mà không phải phá rừng. Đây là điểm khác biệt căn bản so với rừng keo hay bồ đề chu kỳ ngắn”, ông Sơn nhấn mạnh. Trên cơ sở khảo nghiệm giống và theo dõi thực tế, Chi cục Kiểm lâm đã tham mưu cho địa phương hỗ trợ người dân phát triển các vùng trồng tập trung, hướng tới xây dựng vùng nguyên liệu và thương hiệu lâm sản đặc thù, tương tự như mô hình vùng chè, vùng cây ăn quả.
Ở góc độ môi trường, rừng gỗ lớn thể hiện nhiều ưu thế rõ rệt. Theo ông Sơn, cây dổi có bộ rễ cọc bám sâu, tán cây dày, khả năng giữ nước và chống xói mòn rất cao. “Thực tế cho thấy các tuyến đường đi qua rừng keo thường xuyên bị sạt lở, trong khi khu vực rừng gỗ lớn gần như không xảy ra hiện tượng này”, ông nói. Dổi là cây thường xanh, không rụng lá theo mùa, nên nguy cơ cháy rừng thấp hơn nhiều so với keo – loài có lá chứa tinh dầu, dễ bắt lửa và cháy lan mạnh.
Nguồn: https://nhandan.vn/special/rung-viet-nam-4/index.html

