Trong nhiều chục năm gắn bó với ngành Văn hóa, từ nghiên cứu, giảng dạy đến tham gia xây dựng chính sách, tôi đã chứng kiến sự thay đổi trong cách nhìn nhận về lĩnh vực này: từ chỗ từng bị nhiều người xem như một lĩnh vực chỉ “tiêu tiền”, dần được nhận ra và khẳng định vị trí “làm ra giá trị”, “tạo ra ảnh hưởng”, và xa hơn nữa, “tạo dựng tương lai”.
Trong khuôn khổ bài viết này, tôi chỉ xin bàn về một chủ đề cụ thể là công nghiệp văn hóa. Xem trên mặt báo thời gian gần đây, chúng ta có thể thấy những chuyển động của công nghiệp văn hóa luôn là một trong các chủ đề nổi bật được bạn đọc quan tâm, bàn luận. Đó là sự chiếm lĩnh của phim Việt trong rạp chiếu; là những bài hát Việt với giai điệu tạo nên “cơn sốt” không chỉ trong nước mà cả nước ngoài; là những chương trình âm nhạc do người Việt tổ chức, ca sĩ Việt đứng trên sân khấu, không có ca sĩ Âu Mỹ hay Hàn Quốc song vẫn “cháy vé”, thậm chí các bạn trẻ còn mang chăn, chiếu ra sân vận động ngủ qua đêm để chờ xem…
Theo thống kê, năm 2025 doanh thu phòng vé ở Việt Nam đạt mức kỷ lục gần 5.600 tỷ đồng cùng hơn 70 triệu lượt vé xem phim đã được bán ra, tăng lần lượt 24% và 29% so với năm 2024. Trong khi nhiều thị trường quốc tế vẫn đang nỗ lực để quay lại mức doanh thu phòng vé trước dịch, điện ảnh Việt Nam không chỉ nhanh chóng phục hồi mà còn bước vào giai đoạn tăng trưởng mạnh mẽ với mức tăng trưởng doanh thu phòng vé hàng năm trên 20%.
Khán giả xếp hàng vào xem phim tại Trung tâm Chiếu phim Quốc gia (Ảnh: Minh Nhân).
Trên đây tôi chỉ điểm qua một vài “mảnh ghép” trong công nghiệp văn hóa. Nếu nhìn rộng hơn thì có thể nói công nghiệp văn hóa Việt Nam đã có sự chuyển biến mạnh mẽ và toàn diện trong những năm gần đây, trở thành một ngành kinh tế dịch vụ quan trọng, phát triển rõ rệt về chất và lượng, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm. Theo thống kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, giá trị sản xuất của các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam giai đoạn 2018–2022 đóng góp ước bình quân đạt 1,059 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 44 tỷ USD.
Dù vậy, nhìn ra thế giới thì ngành công nghiệp văn hóa của chúng ta vẫn còn khiêm tốn. Đơn cử, theo số liệu do Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc công bố mới đây, tổng doanh thu hoạt động của các doanh nghiệp văn hóa quy mô lớn nước này trong năm 2025 đạt gần 15,21 nghìn tỷ nhân dân tệ (khoảng 2,18 nghìn tỷ USD), tăng 7,4% so với năm trước. Trong đó, doanh thu phòng vé của thị trường điện ảnh Trung Quốc trong dịp Tết Nguyên đán vừa qua đã vượt mốc 8 tỷ nhân dân tệ, tương đương khoảng 1,1 tỷ USD.
Ở Nhật Bản, riêng ngành công nghiệp sản xuất phim hoạt hình (anime) đã mang lại giá trị kinh tế đạt mức cao kỷ lục 3,84 nghìn tỷ yên trong năm 2024, tương đương khoảng hơn 25 tỷ USD. Trong khi đó, làn sóng lan tỏa mạnh mẽ của văn hóa đại chúng Hàn Quốc ra toàn thế giới (Hallyu) tiếp tục đem lại cho nước này hàng chục tỷ USD giá trị xuất khẩu liên quan đến văn hóa, du lịch và tiêu dùng mỗi năm.
Những con số trên dù chưa đầy đủ đã cho thấy một bài học phát triển rất rõ ràng: ở những quốc gia đi trước trong khu vực, văn hóa từ lâu không còn đứng ngoài kinh tế. Văn hóa đang ở ngay trong trung tâm của tăng trưởng, trong trung tâm của cạnh tranh quốc gia, trong trung tâm của sức mạnh mềm và hình ảnh đất nước.
Công nghiệp văn hóa không chỉ là câu chuyện của vài bộ phim ăn khách, vài thần tượng nổi tiếng hay vài sản phẩm giải trí nhất thời. Đó là một cấu trúc phát triển mới, nơi một bộ phim có thể kéo theo du lịch, bán lẻ, thời trang, thực phẩm, đồ chơi, công viên chủ đề, bản quyền số; nơi một nhân vật hoạt hình có thể đi từ trang giấy ra rạp chiếu, từ rạp chiếu ra cửa hàng, từ cửa hàng đến trường học, bảo tàng, sân bay, lễ hội, rồi trở thành biểu tượng quốc gia.
Trong con số 3,84 nghìn tỷ yên của ngành công nghiệp anime Nhật Bản kể trên, doanh thu từ thị trường quốc tế chiếm hơn một nửa, vượt thị trường trong nước. Điều này cho thấy anime đã trở thành một ngành công nghiệp văn hóa toàn cầu của đất nước mặt trời mọc. Ở đó, văn hóa không chỉ chạm vào cảm xúc con người, mà còn chạm vào hành vi tiêu dùng, vào chuỗi giá trị, vào dòng tiền, vào hình ảnh quốc gia trên bản đồ toàn cầu.
Khi nói đến công nghiệp văn hóa thế giới, câu chuyện ở đây không phải là khoảng cách giữa Việt Nam với các quốc gia đi trước. Khoảng cách nào rồi cũng có thể rút ngắn, nếu có tầm nhìn và quyết tâm. Điều khiến tôi trăn trở hơn là: chúng ta đã thực sự nhìn văn hóa bằng con mắt của thời đại mới hay chưa? Chúng ta đã thật sự xem công nghiệp văn hóa là một cấu phần nghiêm túc của chiến lược phát triển đất nước hay chưa? Và quan trọng hơn, chúng ta có dám đi đến cùng với nhận thức ấy hay không?
Nói như vậy không có nghĩa là Việt Nam chưa chuyển động. Trái lại, tôi cho rằng chúng ta đang đứng trước một cơ hội rất lớn, có lẽ là một trong những cơ hội rõ ràng nhất từ trước tới nay. Ngày 7/1, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 80 về phát triển văn hóa Việt Nam. Nghị quyết khẳng định rất rõ: phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, đồng thời là trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước; các giá trị văn hóa phải thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội và thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia trong kỷ nguyên mới.
Văn kiện Đại hội XIV cũng đã nhấn mạnh văn hóa là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và hệ điều tiết của phát triển bền vững.
Tôi đặc biệt lưu tâm đến chữ “hệ điều tiết”. Bởi nhiều năm qua, khi nói đến văn hóa, ta thường nhấn mạnh vai trò nền tảng, vai trò mục tiêu, vai trò động lực. Nhưng “hệ điều tiết” là một bước phát triển cao hơn của tư duy. Nó cho thấy văn hóa không chỉ tạo ra cảm hứng, mà còn tạo ra chuẩn mực; không chỉ tạo ra sản phẩm, mà còn điều chỉnh hành vi; không chỉ phục vụ tăng trưởng, mà còn làm cho tăng trưởng ấy trở nên nhân văn hơn, cân bằng hơn, bền vững hơn.
Khi đặt công nghiệp văn hóa trong tầm nhìn ấy, ta sẽ thấy đây không chỉ là câu chuyện kiếm tiền từ giải trí, mà là câu chuyện phát triển một nền kinh tế biết nuôi dưỡng tâm hồn dân tộc, biết định hình thẩm mỹ xã hội, biết chuyển hóa di sản thành tài sản, biết biến sáng tạo thành sức mạnh quốc gia.
Việt Nam không thiếu chất liệu để bước vào cuộc cạnh tranh công nghiệp văn hóa toàn cầu. Chúng ta có một bề dày lịch sử hàng nghìn năm, có kho tàng di sản vật thể và phi vật thể đồ sộ, có 54 dân tộc với những thế giới biểu tượng, mỹ thuật, âm nhạc, ngôn ngữ, nghi lễ và tri thức bản địa vô cùng phong phú.
Chúng ta có những đô thị đang chuyển mình mạnh mẽ, có một lớp trẻ năng động, giàu khát vọng sáng tạo, có thị trường nội địa hơn một trăm triệu dân, có cộng đồng người Việt ở nước ngoài đông đảo, có hạ tầng số phát triển nhanh, có không gian để kết nối văn hóa với du lịch, giáo dục, công nghệ, thương mại điện tử, truyền thông số. Nói cách khác, chúng ta có tài nguyên văn hóa, có con người, có công nghệ, có thị trường. Điều chúng ta còn thiếu, nếu nói một cách thẳng thắn, là một hệ sinh thái đủ mạnh để nối những yếu tố đó lại với nhau thành sức sản xuất mới.
Tôi luôn cho rằng, điểm nghẽn lớn nhất của công nghiệp văn hóa Việt Nam không nằm ở chỗ chúng ta thiếu tài năng. Người Việt Nam không thiếu sức sáng tạo. Những thành công của điện ảnh, âm nhạc, thiết kế, trò chơi trực tuyến, thủ công mỹ nghệ, thời trang, du lịch trải nghiệm trong những năm gần đây đã chứng minh điều đó. Điểm nghẽn của chúng ta nằm ở chỗ nhiều giá trị văn hóa vẫn đang tồn tại dưới dạng tiềm năng phân tán, chưa được tổ chức thành chuỗi giá trị. Nói cách khác, chúng ta có “mỏ”, nhưng chưa có đủ công cụ để khai thác mỏ ấy một cách hiện đại, tinh tế và bền vững.
Hội vật làng Sình ở Huế thu hút người xem (Ảnh: Nam Anh).
Một lễ hội rất đẹp, nếu chỉ dừng ở vài ngày hội làng, thì giá trị kinh tế sẽ ngắn. Nhưng nếu từ lễ hội đó, ta phát triển được câu chuyện thương hiệu, sản phẩm lưu niệm, không gian trình diễn, chương trình trải nghiệm, nội dung số, phim tài liệu, thiết kế quà tặng, giáo dục di sản cho trẻ em, thì lễ hội không còn là một sự kiện, mà trở thành một ngành kinh tế văn hóa thu nhỏ.
Một di sản kiến trúc, nếu chỉ gìn giữ để ngắm nhìn, thì giá trị của nó chủ yếu dừng ở bảo tồn. Nhưng nếu từ di sản ấy ta tổ chức được hoạt động sáng tạo, thiết kế, biểu diễn, thời trang, ẩm thực, điện ảnh, du lịch đêm, kể chuyện số, thì di sản sẽ bước ra khỏi sự tĩnh lặng của quá khứ để sống trong đời sống hiện đại.
Đó chính là điều các nước đi trước đã làm rất tốt. Trung Quốc không chỉ có phim, mà còn có hệ sinh thái xoay quanh phim. Nhật Bản không chỉ có anime, mà có cả một nền kinh tế anime. Hàn Quốc không chỉ có thần tượng âm nhạc, mà có cả chuỗi giá trị Hallyu. Họ không thắng chỉ vì nội dung hay, mà còn vì biết tổ chức sáng tạo thành công nghiệp, biết nâng cảm xúc thành thương hiệu, biết nối văn hóa với công nghệ, với tài chính, với hạ tầng, với giáo dục, với xuất khẩu.
Việt Nam muốn đi nhanh hơn, không thể chỉ dừng ở khẩu hiệu “phát huy tiềm năng”. Chúng ta phải biến tiềm năng thành năng lực, biến năng lực thành sản phẩm, biến sản phẩm thành thương hiệu, và biến thương hiệu thành sức cạnh tranh quốc gia. Điều này đòi hỏi một số chuyển động rất căn bản.
Trước hết là chuyển động trong nhận thức. Cần nhìn công nghiệp văn hóa như một ngành kinh tế đặc thù nhưng hoàn toàn có thể đo lường, đầu tư, quản trị và đánh giá hiệu quả. Một khi còn xem đây là câu chuyện phụ, câu chuyện “làm thêm cho vui”, thì khó có thể có những doanh nghiệp lớn, những quỹ đầu tư chuyên biệt, những chính sách đủ táo bạo để nuôi dưỡng sáng tạo.
Tiếp đó là chuyển động trong thể chế. Nghị quyết 80 đã mở ra một khung tư duy rất mạnh, nhưng từ nghị quyết đến thực tiễn còn cần rất nhiều bước đi cụ thể: cơ chế tài chính linh hoạt hơn cho lĩnh vực văn hóa; chính sách thuế, tín dụng, đất đai, bản quyền phù hợp hơn với doanh nghiệp sáng tạo; hạ tầng cho các trung tâm thiết kế, trường quay, không gian biểu diễn, cụm sáng tạo; cách làm mới trong hợp tác công – tư; và đặc biệt là một môi trường pháp lý đủ an toàn để người sáng tạo yên tâm sống được bằng sáng tạo.
Một chuyển động khác cũng không kém phần quan trọng là chuyển động trong giáo dục và đào tạo nhân lực. Công nghiệp văn hóa không chỉ cần nghệ sĩ giỏi, mà cần cả nhà sản xuất, nhà quản trị, chuyên gia marketing, luật sư bản quyền, kỹ sư công nghệ, nhà thiết kế trải nghiệm, người kể chuyện số. Nếu chúng ta chỉ đào tạo những người làm chuyên môn đơn lẻ mà không hình thành đội ngũ liên ngành, thì rất khó hình thành ngành công nghiệp thật sự.
Nhưng trên tất cả, điều tôi muốn nhấn mạnh vẫn là một chuyển động của tinh thần. Muốn công nghiệp văn hóa phát triển, trước hết phải tin vào giá trị của văn hóa Việt Nam. Phải tin rằng truyện kể dân gian của ta, lịch sử của ta, mỹ thuật của ta, âm nhạc của ta, áo dài của ta, ẩm thực của ta, tín ngưỡng của ta, không gian làng quê của ta, nhịp sống đô thị của ta, ký ức chiến tranh và khát vọng hòa bình của ta, tất cả đều có thể trở thành chất liệu sáng tạo mang tầm quốc tế nếu được kể bằng ngôn ngữ của thời đại.
Tôi nói điều này không phải bằng sự lạc quan giản đơn. Tôi nói điều này từ niềm tin đã được thử thách qua nhiều năm quan sát. Mỗi lần một bộ phim Việt Nam chạm được vào công chúng, mỗi lần một chương trình âm nhạc Việt Nam khiến khán giả xúc động, mỗi lần một sản phẩm thiết kế Việt Nam được quốc tế chú ý, mỗi lần một địa phương biết đánh thức di sản của mình bằng cách làm mới, tôi lại thấy rõ: chúng ta không hề thiếu khả năng. Điều chúng ta cần là một cú hích đủ lớn, một tầm nhìn đủ dài, một hệ sinh thái đủ lành mạnh để những mầm sáng tạo ấy không phải lớn lên đơn độc.
Tác giả: PGS.TS Bùi Hoài Sơn là thạc sĩ chuyên ngành quản lý di sản và nghệ thuật tại Đại học Bắc London (University of North London); tiến sĩ quản lý văn hóa tại Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam. Ông hiện là Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội.
Chuyên mục TÂM ĐIỂM mong nhận được ý kiến của bạn đọc về nội dung bài viết. Hãy vào phần Bình luận và chia sẻ suy nghĩ của mình. Xin cảm ơn!
Nguồn: https://dantri.com.vn/tam-diem/tu-tieu-tien-den-lam-ra-gia-tri-20260317081508786.htm

