
Ảnh thực hiện với công nghệ AI – Thực hiện: Tấn Đạt
Sự việc một lần nữa câu hỏi về hiệu quả của việc quản lý, nhất là khi ngày Tết gần kề và nhu cầu tiêu thụ tăng cao.
Chị Nguyễn Thị Phương Lam (35 tuổi, Hà Nội) chia sẻ rằng người dân luôn được khuyên phải “tiêu dùng thông minh”, nhưng thực tế chị Lam cho rằng bản thân người tiêu dùng không có khả năng kiểm tra chất lượng nguyên liệu, cũng không thể biết được quy trình sản xuất phía sau mỗi sản phẩm.
Muốn làm “người tiêu dùng thông minh” cũng khó
“Điều chúng tôi mong mỏi là cơ quan chức năng cần kiểm tra chặt chẽ hơn ngay từ khâu đầu vào, công khai rõ ràng kết quả kiểm nghiệm, xử lý nghiêm các vi phạm để người dân có thể yên tâm. Nếu không, mỗi lần đi chợ hay vào siêu thị đều mang tâm trạng thấp thỏm, không biết đâu là thực phẩm an toàn, đâu là nguy cơ tiềm ẩn đối với sức khỏe gia đình mình”, chị Lam nói.
TS Trương Hồng Sơn (Viện trưởng Viện Khoa học ứng dụng Việt Nam) cho rằng trước thực trạng này, nhiều người dân tỏ ra lo lắng, băn khoăn khi ngay cả những sản phẩm được gắn mác có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng cũng có thể vi phạm an toàn thực phẩm, khiến người tiêu dùng khó biết đâu là lựa chọn an toàn. Theo bác sĩ Sơn, bảo đảm an toàn thực phẩm không phải là điều dễ dàng.
“Chúng ta chỉ có thể đánh giá mức độ uy tín của doanh nghiệp, hình thức bao bì, nhãn mác, còn thành phần bên trong thực sự như thế nào thì chỉ có kiểm nghiệm mới cho câu trả lời chính xác”, bác sĩ Sơn cho hay.
Ông cũng cho rằng để giải quyết tận gốc vấn đề an toàn thực phẩm không chỉ cần “người tiêu dùng thông minh” mà quan trọng hơn là phải có những “nhà quản lý thông thái” và những nhà sản xuất có trách nhiệm.

Các sản phẩm đồ hộp của Công ty Đồ hộp Hạ Long không còn xuất hiện trên các quầy trưng bán tại các siêu thị (ảnh chụp tối 8-1 tại một siêu thị ở TP.HCM) – Ảnh: T.T.D.
Lỗ hổng ở “vùng an toàn”
Hiện nay, trong nghị định 15 có quy định quản lý sản phẩm thực phẩm đã qua chế biến bao gói sẵn. Đây là sản phẩm doanh nghiệp tự công bố chất lượng và được phép đưa sản phẩm ra thị trường ngay sau khi tự công bố.
Nhà nước chuyển sang hậu kiểm, thanh tra, xử phạt. Vì vậy nếu khâu kiểm tra sau đó không kịp thời hoặc không đủ sâu, sản phẩm kém chất lượng vẫn có thể lưu thông trong thời gian dài, tiếp cận người tiêu dùng trước khi bị phát hiện.
Chia sẻ với Tuổi Trẻ về vấn đề này, một chuyên gia trong lĩnh vực an toàn thực phẩm cho rằng có thể thấy một số lỗ hổng như sản phẩm đã lưu thông rộng rãi mới bị phát hiện vi phạm, cho thấy hậu kiểm chưa theo kịp thực tế thị trường.
“Việc truy xuất nguồn gốc nguyên liệu còn lỏng lẻo, nhất là trong chuỗi cung ứng nhiều tầng nấc. Niềm tin vào thương hiệu lớn khiến cả người tiêu dùng lẫn cơ quan quản lý có xu hướng “nới tay” trong giám sát thường xuyên. Những vụ việc này cho thấy khi hậu kiểm không đủ mạnh, rủi ro không còn nằm ở thực phẩm giá rẻ hay sản xuất nhỏ lẻ, mà đã lan sang cả hàng công nghiệp, hàng thương hiệu”, vị này nhận định.
Chuyên gia này cho rằng cần thay đổi tư duy quản lý theo hướng kiểm soát rủi ro từ gốc và xuyên suốt vòng đời sản phẩm, thay vì trông chờ chủ yếu vào hậu kiểm khi sự cố đã xảy ra.
Trước hết cần siết chặt khâu tiền kiểm đối với nhóm thực phẩm nguy cơ cao, đặc biệt là yêu cầu bắt buộc về điều kiện sản xuất, hệ thống quản lý chất lượng và truy xuất nguồn gốc nguyên liệu. Các tiêu chuẩn không chỉ mang tính hình thức mà phải được kiểm tra thực chất, định kỳ, gắn với trách nhiệm cụ thể của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó cần tăng cường truy xuất nguồn gốc; mỗi lô nguyên liệu, mỗi công đoạn trong chuỗi cung ứng phải có dữ liệu rõ ràng, có thể kiểm tra ngược nhanh chóng khi phát sinh rủi ro. Với những chuỗi cung ứng nhiều tầng nấc, việc ứng dụng công nghệ số, cơ sở dữ liệu dùng chung giữa các cơ quan quản lý là yếu tố then chốt để tránh tình trạng “đứt gãy thông tin”.
“Không được để “vùng an toàn” cho thương hiệu lớn, mọi sản phẩm đều phải chịu mức giám sát dựa trên mức độ rủi ro, không phân biệt quy mô hay độ nổi tiếng. Hậu kiểm cần chuyển từ kiểm tra ngẫu nhiên sang kiểm tra có trọng tâm trọng điểm, tập trung vào nhóm sản phẩm tiêu thụ lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng”, vị chuyên gia nhấn mạnh.
Không thể trông chờ vào sự tự giác của doanh nghiệp
PGS Trần Hồng Côn (nguyên giảng viên khoa hóa Trường đại học Khoa học tự nhiên – ĐHQG Hà Nội) cho rằng lỗ hổng nghiêm trọng nhất hiện nay nằm ở khâu hậu kiểm, tức thiếu cơ chế giám sát độc lập đối với sản phẩm sau khi được đưa ra thị trường khi quy trình quản lý chủ yếu dừng lại ở việc doanh nghiệp nộp hồ sơ công nghệ, thành phần để được cấp phép.
Sau đó chất lượng sản phẩm xuất xưởng gần như chỉ do bộ phận kiểm tra nội bộ của chính doanh nghiệp thực hiện mà thiếu các đợt kiểm tra thường xuyên, bắt buộc từ một bên thứ ba độc lập. “Cơ chế này sẽ phức tạp, tốn kém thời gian và chi phí, nhưng là điều không thể tránh khỏi trong bối cảnh hiện nay khi tính tự giác chưa cao”, ông nói thêm.
Từ thực tế này, ông Côn nhấn mạnh không thể tiếp tục trông chờ vào sự tự giác của doanh nghiệp. Để bịt lỗ hổng hậu kiểm, cần giải pháp mang tính hệ thống từ việc kiểm tra định kỳ bởi cơ quan kiểm định độc lập nhằm xác nhận sản phẩm thực sự đạt đúng chất lượng đã công bố trước khi lưu hành rộng rãi trên thị trường.
“Kỷ luật phải đi trước, tự giác mới theo sau. Chỉ khi kỷ luật được thực thi nghiêm ngặt, doanh nghiệp mới hình thành ý thức tuân thủ thực chất, thay vì chỉ dừng lại trên giấy tờ”, ông nhấn mạnh.
Cần xây dựng và kiểm soát chặt chuỗi cung ứng
Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Nguyễn Kim Đoán, Phó chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Đồng Nai, cho rằng heo nhiễm dịch tả không chỉ ở chuồng nuôi mà có thể bị nhiễm trong quá trình vận chuyển, giết mổ, cung ứng.
Vì vậy, các doanh nghiệp thu mua cần có sự liên kết tốt với trại nuôi và thực hiện việc kiểm soát chặt từ khâu chăn nuôi, vận chuyển, giết mổ và lưu trữ (ví dụ vi rút dịch tả thì một miếng nhiễm bệnh cũng có thể lan ra cả kho). Điều này là bắt buộc, không chỉ với thịt heo mà các loại gia súc, gia cầm khác.
Trong khi đó, một chuyên gia trong lĩnh vực thú y phía Nam cho rằng lực lượng thú y mỏng nên khó kiểm soát hết được; việc kiểm nghiệm trong điều kiện bình thường cũng mang tính xác suất, không thể đại trà vì điều kiện có hạn. Chưa kể ngành thú y chủ yếu phụ trách chăn nuôi, giết mổ, còn khi thịt ra ngoài thị trường, phát sinh các vấn đề khác thì trách nhiệm thuộc về ngành khác.
Lãnh đạo một đơn vị bán lẻ, sản xuất thực phẩm tại TP.HCM cho rằng để kiểm soát chặt chuỗi cung ứng sẽ khiến chi phí đội lên nhiều nhưng quan trọng là khách hàng, đối tác hiểu được việc kiểm soát này nên sẵn sàng trả giá cao hơn.
“Chết người” từ chỗ vẫn thơm ngon
Trao đổi với Tuổi Trẻ ngày 10-1, PGS Trần Hồng Côn cho rằng thực tế người dân không thể nhận biết rủi ro từ các sản phẩm này bằng cảm quan thông thường vì sản phẩm vẫn thơm ngon, hình thức bên ngoài và bên trong không khác gì.
Việc phát hiện thành phần sản phẩm đòi hỏi phân tích hóa học chính xác, thiết bị hiện đại, chuyên môn cao… và được thực hiện bởi các cơ quan kiểm nghiệm chuyên ngành. Đáng lo ngại hơn: niềm tin của người tiêu dùng vào các thương hiệu lớn và hệ thống phân phối được xem là uy tín đang không còn là “lá chắn” bảo đảm an toàn.
Theo ông Côn, an toàn thực phẩm không thể đặt cược vào lời cam kết hay danh tiếng thương hiệu, mà phải được bảo đảm bằng một hệ thống hậu kiểm chặt chẽ và sự giám sát độc lập, khách quan. Nhãn mác phản ánh đúng chất lượng bên trong, chứ không chỉ là lớp vỏ hào nhoáng bên ngoài.
Nếu không siết chặt hậu kiểm ngay từ bây giờ, thị trường sẽ tiếp tục tồn tại hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng và người tiêu dùng sẽ luôn sống trong tâm trạng nơm nớp lo sợ, dù cầm trên tay sản phẩm mang nhãn hiệu lớn đến đâu.
Trong khi đó, bác sĩ Lê Văn Thiệu (Bệnh viện Bệnh nhiệt đới trung ương) cũng cho rằng khi nguyên liệu không đủ tiêu chuẩn tươi sạch thì với việc phải thêm nhiều loại hóa chất và phụ gia nhằm khử mùi, tạo màu, tạo độ béo và độ thơm, khiến thành phẩm cuối cùng rất khó phân biệt chất lượng nguyên liệu. Chính vì vậy, người tiêu dùng hoàn toàn ở thế bị động.
Sửa luật để bịt lỗ hổng tự công bố – hậu kiểm
Theo ông Chu Quốc Thịnh, quyền Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế), Bộ Y tế đang hoàn thiện hồ sơ dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) gồm 11 chương, 55 điều.
Một trong 5 chính sách quan trọng của luật sửa đổi là kiểm soát các sản phẩm thực phẩm đã qua chế biến bao gói sẵn trước khi lưu thông trên thị trường theo hướng dựa trên mức độ nguy cơ của từng loại sản phẩm thực phẩm.
Hướng sửa đổi nghị định 15 cho thấy một bước điều chỉnh quan trọng trong tư duy quản lý an toàn thực phẩm, nhằm khắc phục những lỗ hổng của cơ chế “tự công bố – hậu kiểm” hiện nay.
Theo đó, thay vì áp dụng một cách quản lý gần như đồng loạt, dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) dự kiến phân loại thực phẩm đã qua chế biến bao gói sẵn theo ba mức độ nguy cơ – cao, trung bình và thấp – để áp dụng phương thức kiểm soát tương ứng.
Với nhóm nguy cơ cao, sản phẩm sẽ phải đăng ký lưu hành và chịu sự thẩm định trước khi ra thị trường, qua đó tái lập “chốt chặn kỹ thuật” đối với những mặt hàng tiềm ẩn rủi ro lớn.
Trong khi đó các sản phẩm nguy cơ trung bình và thấp vẫn được công bố tiêu chuẩn áp dụng, nhưng đi kèm là yêu cầu rõ ràng hơn về phân tích nguy cơ, truy xuất nguồn gốc, phòng ngừa và khắc phục sự cố.
Dự luật cũng nêu rõ quy định hậu kiểm không còn mang tính hình thức, mà được thiết kế theo mức độ rủi ro, lịch sử tuân thủ và cảnh báo vi phạm với ba cấp độ kiểm tra: chặt, thường và giảm.
Bên cạnh đó dự thảo tăng cường vai trò của hệ thống kiểm nghiệm nhà nước, cho phép chủ động lấy mẫu giám sát thị trường, đồng thời làm rõ trách nhiệm giữa cơ quan kiểm nghiệm và cơ quan quản lý trong việc thu hồi, xử lý sản phẩm không bảo đảm an toàn.
Bổ sung chế tài mạnh như nâng mức xử phạt tối đa, thu hồi sản phẩm và tạm dừng tiếp nhận thủ tục hành chính đối với tổ chức, cá nhân vi phạm. Dự thảo cũng mở rộng “vùng quản lý” sang thương mại điện tử và các nền tảng số, nơi thực phẩm bao gói sẵn đang được kinh doanh, quảng cáo với tốc độ nhanh nhưng ít bị kiểm soát.
“Đặc biệt dự thảo Luật An toàn thực phẩm sửa đổi sẽ có một chương về công tác hậu kiểm. Công tác hậu kiểm hết sức quan trọng, đây là mô hình mà các nước đang áp dụng rất nhiều theo mô hình FDA Hoa Kỳ.
Hiện công tác hậu kiểm đang được quy định ở các điều khoản khác nhau của các văn bản pháp luật. Vì vậy, dự thảo luật này sẽ hệ thống hóa trong một chương liên quan công tác hậu kiểm”, ông Thịnh cho biết.
Bên cạnh đó, ông Thịnh cho hay dự thảo luật cũng bổ sung chính sách tăng cường quản lý đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh sản phẩm thực phẩm có nguy cơ cao, nhằm siết chặt kiểm soát từ khâu sản xuất đến lưu thông trên thị trường.
Trong quá trình sản phẩm lưu hành, công tác hậu kiểm được xác định là trọng tâm. Cơ quan chức năng sẽ tập trung kiểm tra hồ sơ, thủ tục cấp giấy đăng ký lưu hành; việc công bố tiêu chuẩn áp dụng; giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện kinh doanh thực phẩm; cũng như chất lượng, mức độ an toàn của sản phẩm trong quá trình kinh doanh.
Đặc biệt các sản phẩm thực phẩm nguy cơ cao, sản phẩm có khả năng bị sử dụng sai mục đích hoặc dễ bị lạm dụng sẽ được giám sát chặt chẽ hơn.
Các chuyên gia cho rằng cần tăng cường trách nhiệm của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công Thương trong kiểm soát đầu vào chuỗi cung ứng thực phẩm, nhất là với nhóm sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam có kim ngạch lớn, hơn 65 tỉ USD năm 2024, chủ yếu thuộc lĩnh vực nông nghiệp.
Đầu vào được xác định gồm thuốc bảo vệ thực vật, tồn dư, thức ăn, phân bón, các yếu tố trong động, thực vật và các khâu sơ chế, chế biến trước khi đưa sản phẩm vào chuỗi cung ứng.
Đây là mô hình quản lý đang được nhiều quốc gia áp dụng, đồng thời gắn với việc kiểm soát thực phẩm chế biến, đóng gói sẵn trước khi lưu thông trên thị trường theo mức độ nguy cơ của từng loại sản phẩm.
Ông Nguyễn Huy Quang, nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp chế (Bộ Y tế), đề xuất trong quản lý thực phẩm cần phải quản lý rủi ro trên cơ sở các yếu tố nguy cơ đối với các nhóm thực phẩm.
Việc quản lý này phụ thuộc vào mức độ rủi ro khác nhau. Khi đó chúng ta sẽ tập trung vào các nhóm sản phẩm thực phẩm có yếu tố nguy cơ cao để quản lý từ khâu nguyên liệu đến khâu sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu.
“Để thực hiện được việc này, đòi hỏi phải có một đầu mối mang tính thống nhất từ trung ương trên cơ sở phân công, phân cấp, phân quyền đối với các cơ sở của địa phương”, ông Quang nhấn mạnh.
Nguồn: https://tuoitre.vn/tu-vu-pate-do-hop-ha-long-siet-thuc-pham-che-bien-san-bang-cach-nao-20260111074956438.htm

