Tiêm kích trên tàu sân bay USS Abraham Lincoln của Mỹ trong chiến dịch tập kích Iran (Ảnh: Reuters).
Cuối tuần qua, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã yêu cầu Anh, Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc cùng các nước khác gửi tàu chiến đến Trung Đông để hỗ trợ mở lại eo biển Hormuz, vốn đang bị đóng băng do lệnh phong tỏa của Iran.
Ông Trump cũng đưa ra lời đe dọa mơ hồ đối với các đồng minh NATO không tham gia sứ mệnh này, cảnh báo sẽ “rất tệ cho tương lai của NATO” nếu họ từ chối giúp bảo đảm an ninh cho eo biển gần lãnh thổ Iran.
Tuy nhiên, các quốc gia được ông Trump nêu đích danh và nhiều đồng minh khác của Mỹ không vội vàng chấp thuận đề nghị của ông chủ Nhà Trắng. Họ công khai bác bỏ yêu cầu của nhà lãnh đạo Mỹ hoặc đưa ra những tuyên bố mơ hồ.
Hiện tại, không có triển vọng nào về một liên minh do Mỹ dẫn đầu để giúp khơi thông eo biển Hormuz.
Theo nhà phân tích Zeeshan Aleem của hãng tin MS NOW, không quốc gia nào muốn chịu đựng giá dầu tăng vọt. Nhưng họ đương nhiên cũng không muốn gánh chịu rủi ro và thương vong tiềm tàng để bảo vệ một tuyến đường thủy vốn hoạt động bình thường cho đến khi Mỹ quyết định tấn công Iran.
Trong cuộc phỏng vấn với hãng tin Sputnik, Hasan Selim Ozertem, nhà phân tích chính trị Thổ Nhĩ Kỳ, nhận định Đức, Tây Ban Nha, Italy và Pháp – cùng với các thành viên không thuộc NATO là Nhật Bản và Hàn Quốc – đang ngần ngại tham gia vào chiến dịch hàng hải do Mỹ dẫn đầu ở eo biển Hormuz “do sự không chắc chắn trên chiến trường”.
“Các quốc gia này không chắc chắn về sự an toàn cho lực lượng hải quân của họ”, ông Ozertem giải thích, đồng thời lưu ý rằng các sự kiện gần đây đã chứng minh rằng các tàu của Mỹ dễ bị tổn thương trước tên lửa của Iran và “không được bảo vệ trước thủy lôi ở Vịnh Ba Tư”.
“Về vấn đề này, tôi nghĩ không ai muốn trở thành một phần của cuộc xung đột đang diễn ra”, ông nói thêm.
Theo chuyên gia Ozertem, mặc dù Tổng thống Mỹ Donald Trump nói rằng tương lai của NATO sẽ bị hoài nghi nếu các đồng minh của Mỹ không ủng hộ chiến dịch Hormuz của Washington, nhưng vấn đề đặt ra là “NATO là liên minh phòng thủ, chứ không phải liên minh tham gia vào một chiến dịch tấn công mà không có quyết định của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc hoặc sự đồng ý của các thành viên NATO”.
Vị trí eo biển Hormuz (Ảnh: BBC).
Chuyên gia cũng chỉ ra một thách thức khác đối với chiến dịch của Mỹ. Ông cho rằng, eo biển Hormuz là “một tuyến hàng hải hẹp và không có tàu khu trục nào của Mỹ được an toàn khi chúng hộ tống các tàu ra khỏi Vịnh Ba Tư”. Do vậy, chính quyền Mỹ sẽ đối mặt nguy cơ mất thể diện nếu để mất bất kỳ tàu khu trục nào.
Chuyên gia cũng nhận định Washington đã tính toán sai lầm khi cho rằng cuộc xung đột với Iran có thể kết thúc nhanh chóng, thay vì trở thành một cuộc xung đột kéo dài.
Nhà phân tích Thổ Nhĩ Kỳ cho biết Washington rõ ràng đã đánh giá sai khả năng chịu đựng một cuộc xung đột kéo dài của Tehran, đặc biệt là thông qua việc sử dụng máy bay không người lái và tên lửa.
Theo ông Ozertem, cộng đồng quốc tế cho đến nay vẫn mơ hồ về “mục tiêu chiến lược” của chiến dịch quân sự do Mỹ và Israel tiến hành nhằm vào Iran, khi các quan chức cấp cao Mỹ liên tục nêu ra các mục tiêu mới mỗi ngày.
Một trong những mục tiêu đó có thể là thay đổi chính quyền ở Iran, nhưng thực tế cho thấy “chính quyền Iran đã chứng minh được rằng họ vẫn có khả năng phục hồi và hệ thống hiện tại vẫn tiếp tục tồn tại”. Đó là lý do mục tiêu của Mỹ hiện “không còn được xem xét”.
Một mục tiêu khác khiến Mỹ mở chiến dịch tập kích Iran có thể liên quan tới lo ngại của các quốc gia Vùng Vịnh về an ninh. Điều này đã hối thúc Mỹ tiếp tục hiện diện trong khu vực.
Wendy Gilmour, cựu trợ lý tổng thư ký NATO phụ trách đầu tư quốc phòng, cho biết nhiều quốc gia có thể ngần ngại tham gia liên minh do Mỹ dẫn đầu và trở thành bên tham chiến trong cuộc xung đột với Iran.
“Các đồng minh NATO sẽ vô cùng thận trọng trước khi đứng về phía Mỹ. Mỹ và Israel đã tự phát động một cuộc chiến bằng cách tấn công Iran. Hậu quả của việc đó dường như chưa được suy nghĩ thấu đáo”, ông Gilmour cảnh báo.
Iran “bày binh bố trận” thế nào ở eo biển huyết mạch Hormuz?
Jim Townsend, cựu quan chức Lầu Năm Góc, cho biết mặc dù việc duy trì giao thông thông suốt qua eo biển Hormuz sẽ đảm bảo lợi ích kinh tế của châu Âu, nhưng nhiều quốc gia cảm thấy “tổn thương” vì cách ông Trump đối xử với họ.
Ông Townsend đánh giá rằng “hiện tại các nước châu Âu không có nhiều thiện cảm dành cho Mỹ, đặc biệt vì họ không tham gia vào quá trình dẫn đến cuộc chiến này”.
“Đây không phải là cuộc chiến của chúng tôi, chúng tôi không phải là người khởi xướng nó”, Bộ trưởng Quốc phòng Đức Boris Pistorius tuyên bố.
Bruce Jentleson, cựu chuyên gia về Trung Đông, hiện là giáo sư chính sách công tại Đại học Duke ở Durham, chỉ ra rằng “phản ứng mà chúng ta đang thấy, đặc biệt là từ phía châu Âu, là đỉnh điểm của cách mà ông Trump đối xử với các đồng minh – từ việc dọa kiểm soát lãnh thổ (Greenland) của một đồng minh NATO (Đan Mạch) đến tuyên bố của chính quyền về “sự suy thoái văn minh” của châu Âu”.
Ông Jentleson cho biết vấn đề đối với Tổng thống Trump “là không còn sự tin tưởng nào” với các đồng minh. Trong khi đó, lòng tin là yếu tố then chốt trong việc hình thành bất kỳ liên minh ngoại giao và quân sự nào.
Tiến sĩ Miller cho rằng sẽ mất “nhiều tuần và nhiều tháng” để tập hợp và thực hiện một chiến dịch phức tạp nhằm bảo đảm an ninh eo biển Hormuz, đồng thời lưu ý rằng các quốc gia khác có thể sẽ e ngại những hậu quả của việc tham gia vào cuộc chiến của Mỹ và Israel.
“Ví dụ, Trung Quốc sẽ là một trong những nước đầu tiên được hưởng lợi từ việc mở cửa eo biển, vì họ thường nhập khẩu 1,4 triệu thùng dầu mỗi ngày thông qua eo biển Hormuz. Nhưng tôi không tin rằng, với tất cả những rủi ro liên quan, họ lại để mình bị cuốn vào cuộc khủng hoảng này”, chuyên gia nhận định.
Theo Greg Bagwell, cựu chỉ huy Không quân Hoàng gia Anh, hiện là nhà nghiên cứu cấp cao tại Viện Nghiên cứu Quân sự Hoàng gia Anh (RUSI), các quốc gia phải cân nhắc giữa rủi ro từ những hậu quả mà Tổng thống Trump có thể áp đặt so với rủi ro trở thành mục tiêu của Iran.
“Nỗ lực của ông Trump nhằm lôi kéo các quốc gia khác đóng góp tàu chiến đang trở nên tuyệt vọng, nhưng lại có rất ít động lực để khuyến khích họ tham gia. Khó có thể tìm ra điểm thuận lợi nào khi chấp thuận yêu cầu của ông Trump”, ông Bagwell tuyên bố.
Leon Panetta, cựu Bộ trưởng Quốc phòng và Giám đốc Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA), cho biết Tổng thống Trump đã thất bại trong việc đặt nền móng cho một liên minh có thể giúp Mỹ chống lại Iran khi tình hình trở nên khó khăn.
“Bạn không xây dựng liên minh sau khi chiến tranh nổ ra. Bạn xây dựng liên minh trong nhiều tuần, nhiều tháng ngoại giao trước khi chiến tranh xảy ra, để khi những tình huống như thế này phát sinh, bạn có những người khác đứng về phía mình”, Aaron David Miller, nhà phân tích về Trung Đông với hàng chục năm kinh nghiệm ngoại giao trong cả chính quyền Cộng hòa và Dân chủ, cho biết.
Vì vậy, việc các quốc gia không nhanh chóng đáp ứng yêu cầu của Tổng thống Mỹ là điều dễ hiểu.
“Điều này khá bất thường, tiến hành chiến tranh nhưng không tham khảo ý kiến đồng minh, chưa kể đến việc hoàn toàn đánh giá thấp năng lực của đối phương”, Tiến sĩ Miller, hiện là nhà nghiên cứu cấp cao tại Quỹ Carnegie vì Hòa bình Quốc tế ở Washington, nói thêm.
Chuyên gia Panetta cho biết Mỹ cần làm suy yếu khả năng của Iran trong việc tấn công tàu qua eo biển, đồng thời chủ động triển khai các tàu khu trục trước khi các đồng minh sẵn lòng gửi tàu của riêng họ.
“Iran sẽ không đồng ý ngừng bắn chừng nào họ còn kiểm soát eo biển Hormuz”, ông dự đoán.
Nguồn: https://dantri.com.vn/the-gioi/vi-sao-dong-minh-khong-dua-tau-chien-toi-gan-iran-theo-de-nghi-cua-my-20260318155143667.htm

