
Minh họa
Việt Nam đã đặt mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045. Để chạm ngưỡng thu nhập cao theo tiêu chuẩn của Ngân hàng Thế giới (hiện khoảng 14.000 USD), tăng trưởng sản lượng (GDP) bình quân đầu người cần đạt mức trung bình 6% mỗi năm trong hai thập kỷ tới.
Việt Nam đã vượt qua nhiều thập kỷ chiến tranh và tự chuyển mình từ một trong những nền kinh tế nghèo thành một cường quốc sản xuất có thu nhập trung bình chỉ trong vòng một thế hệ. Điều này cho thấy Việt Nam có khả năng thực thi những chiến lược phức tạp”.
Thành công từ chiến lược xuất khẩu
Cách đây 25 năm, Việt Nam đã bắt đầu triển khai chiến lược tăng trưởng dựa vào xuất khẩu. Các hiệp định thương mại và đầu tư đa phương, khu vực và song phương đã giúp giảm bớt các rào cản đối với đầu tư nước ngoài, nhập khẩu máy móc, nguyên liệu thô cùng linh kiện công nghiệp, đồng thời mở rộng khả năng tiếp cận thị trường xuất khẩu.
Hệ thống hạ tầng giao thông và năng lượng cũng đã được quy hoạch và xây dựng nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn cho sự phát triển công nghiệp và giao thương.
Nhờ đó Việt Nam đã vươn lên thành một trung tâm sản xuất hàng đầu, thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các ngành thâm dụng lao động như may mặc, giày dép, điện tử, đồ nội thất, đồng thời hội nhập sâu rộng với các nền kinh tế công nghiệp Đông Á.
Tăng trưởng dựa vào xuất khẩu được chứng minh là chiến lược thành công. Kể từ năm 2000, kim ngạch xuất khẩu đã tăng trưởng thực tế ở mức 12% mỗi năm, ngang bằng với tốc độ của Trung Quốc. Sự tăng trưởng nhanh chóng sản lượng sản xuất đã tạo ra hàng triệu việc làm ổn định và mang lại hàng tỉ đô la ngoại hối.
Năng suất lao động của Việt Nam tăng với tốc độ trung bình hằng năm là 5,5% trong giai đoạn 1990-2023, chỉ đứng sau Trung Quốc tại châu Á. Việt Nam đang nhanh chóng trở thành một xã hội đô thị hóa thịnh vượng, có trình độ học vấn, năng suất và tinh tế.
Tuy nhiên bất kỳ nhà đầu tư nào cũng sẽ nói với bạn rằng sự thể hiện tốt trong quá khứ không phải là đảm bảo cho thành công trong tương lai. Chiến lược tăng trưởng dựa vào xuất khẩu hiện vẫn mang lại các kết quả tích cực, với kim ngạch xuất khẩu năm 2025 tăng 16%, đóng góp cho mức tăng trưởng GDP cả năm đạt 8,02%.
Kết quả tăng trưởng GDP năm 2025 đã gây bất ngờ khi vượt xa các dự báo lạc quan nhất, bởi Việt Nam đạt được mức tăng trưởng cao này bất chấp tác động tiêu cực từ chính sách thuế quan mới của Mỹ và nhu cầu tiêu dùng suy yếu tại các quốc gia nhập khẩu chủ chốt.

Minh hoạ
Ba thách thức lớn
Dù vậy, nếu không có sự thay đổi về chiến lược, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam có khả năng sẽ chậm lại trong những năm tới vì ít nhất ba lý do sau đây.
Thách thức đầu tiên nằm ở yếu tố nhân khẩu học. Nguồn lao động giá rẻ sẵn có từng là động lực chính thúc đẩy sự tăng trưởng thần tốc của Việt Nam. Phần lớn mức tăng trưởng năng suất trong giai đoạn này đến từ việc hàng triệu người dân chuyển đổi từ làm nông nghiệp hoặc các nghề dịch vụ truyền thống vốn có năng suất thấp sang làm việc tại các nhà máy, xí nghiệp có kỹ năng thấp.
Tuy nhiên, tốc độ đô thị hóa nhanh chóng cùng với tỉ lệ sinh đi xuống làm suy giảm nguồn lao động thiếu việc làm ở nông thôn. Trong tương lai, các doanh nghiệp sẽ phải cạnh tranh gay gắt để thu hút nhân công, đồng nghĩa với việc tiền lương sẽ tăng lên. Khi đó tăng trưởng năng suất sẽ phải dựa vào việc gia tăng giá trị trong quy trình sản xuất chứ không còn dựa vào việc chuyển dịch lao động từ đồng ruộng vào nhà máy như trước.
Tỉ lệ sinh giảm cuối cùng sẽ làm tăng tỉ trọng người già trong dân số, dẫn đến lực lượng lao động bị thu hẹp và gánh nặng chi phí đè nặng lên những người trong độ tuổi lao động. Các chuyên gia nhân khẩu học dự báo rằng “thời kỳ dân số vàng” của Việt Nam sẽ kết thúc vào năm 2036 và sau thời điểm đó tốc độ tăng trưởng sẽ chậm lại.
Thách thức thứ hai là khả năng tiếp cận ngoại hối. Giống như hầu hết các nước đang phát triển, Việt Nam đối mặt với sự ràng buộc của cán cân thanh toán đối với tăng trưởng. Nền kinh tế cần đô la (USD) để chi trả cho việc nhập khẩu máy móc, nguyên liệu đầu vào cho công nghiệp và hàng tiêu dùng.
Tình trạng thiếu hụt đô la buộc Ngân hàng Nhà nước phải tăng lãi suất để thu hút dòng vốn ngoại tệ chảy vào và hạn chế tiêu dùng. Nhưng tại sao Việt Nam, một trong những quốc gia xuất khẩu hàng đầu thế giới, lại phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt đô la?

Minh hoạ
Có một vài lý do dẫn đến tình trạng khan hiếm đô la kéo dài. Thứ nhất, hoạt động xuất khẩu của Việt Nam có độ thâm dụng nhập khẩu rất cao. Theo OECD, cứ mỗi 1 USD hàng xuất khẩu thì phát sinh 0,55 USD giá trị hàng nhập khẩu. Thứ hai là tình trạng tháo chạy vốn, được ghi nhận trong mục “lỗi và sai sót” của cán cân thanh toán.
Đô la rời khỏi nền kinh tế thông qua cả con đường hợp pháp và bất hợp pháp, như các giao dịch vàng và đô la không có chứng từ, gian lận hóa đơn thương mại và gần đây nhất là các giao dịch tiền mã hóa. Trong năm 2024, mục “lỗi và sai sót” này đã chiếm tới 33 tỉ USD, tương đương 6,9% GDP.
Cuối cùng, Việt Nam đã tận dụng tốt tỉ lệ vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chảy vào ở mức cao, trung bình đạt 5% GDP trong suốt 25 năm qua. Điều này là tích cực vì đầu tư nước ngoài mang lại công nghệ, khả năng tiếp cận thị trường nước ngoài, tạo ra việc làm và thúc đẩy xuất khẩu.
Tuy nhiên nó cũng làm tăng dòng vốn chảy ra khỏi Việt Nam theo hình thức lợi nhuận chuyển về nước. Tỉ lệ này đã tăng liên tục so với quy mô GDP trong hai thập kỷ qua, đạt mức cao kỷ lục 5,2% GDP vào năm 2023.
Thách thức thứ ba, và có lẽ là vấn đề quan trọng nhất, chính là mối liên kết công nghệ lỏng lẻo giữa các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và các doanh nghiệp nội địa.
Một trong những lợi ích cốt lõi của đầu tư nước ngoài đối với Việt Nam là các công ty FDI tạo ra nhu cầu sản xuất nội địa đối với các yếu tố đầu vào có hàm lượng công nghệ cao và trong một số trường hợp, họ thực hiện chuyển giao công nghệ để hỗ trợ doanh nghiệp trong nước sản xuất các yếu tố đầu vào này.
Những mối liên kết trong chuỗi cung ứng này giúp nâng cao năng suất của các công ty nội địa, từ đó gia tăng năng lực cạnh tranh quốc tế, mở rộng triển vọng tăng trưởng, đồng thời cải thiện khả năng tiếp thu và áp dụng các công nghệ cũng như quy trình quản trị mới.
Tuy nhiên, các nghiên cứu chỉ ra các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam có xu hướng ưu tiên nhập khẩu các yếu tố đầu vào hoặc thu mua đầu vào nội địa từ các doanh nghiệp FDI khác. Nguyên nhân là do khối FDI có các yêu cầu khắt khe về thiết kế, chất lượng và tiến độ giao hàng mà các doanh nghiệp trong nước không thể đáp ứng.
Bên cạnh đó, nội dung thiết kế và hàm lượng công nghệ của các yếu tố đầu vào công nghiệp thay đổi rất nhanh chóng, trong khi các công ty nội địa lại thiếu kiến thức và thông tin cần thiết để bắt kịp với những bước tiến mới. Hệ quả là sự gia tăng năng suất trong ngành sản xuất diễn ra tương đối chậm chạp.

Nguồn: CỤC THỐNG KÊ, dữ liệu NGỌC ĐỨC – Đồ họa: HẢI HÀ
Gợi ý từ châu Âu
Tổng hòa lại, ba vấn đề nêu trên đang đặt ra thách thức đối với chiến lược tăng trưởng hiện tại và thôi thúc Chính phủ đề xuất một mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Việt Nam sẽ tiến mạnh vào các ngành công nghiệp công nghệ cao như bán dẫn, robot, trí tuệ nhân tạo, vật liệu tiên tiến, năng lượng tái tạo, hàng không vũ trụ và công nghệ lượng tử.
Mặc dù điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia là khác nhau nhưng một số nước đã áp dụng chiến lược tương đồng bao gồm: mở cửa thương mại, tận dụng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào các ngành công nghiệp tiên tiến, nâng cấp các trường đại học trong nước và tích hợp các doanh nghiệp nội địa vào các chuỗi giá trị toàn cầu.
Mô hình này được mở đường ở Ireland và sau đó được các thành viên mới của Liên minh châu Âu (EU) áp dụng, bao gồm Estonia, Cộng hòa Czech và Ba Lan. Trong khi Ireland và Estonia tập trung vào các ngành dịch vụ giá trị cao trong lĩnh vực truyền thông, tài chính và dược phẩm thì Ba Lan và Cộng hòa Czech đã vươn lên trở thành các trung tâm sản xuất của EU.
Cả bốn quốc gia này đều kết hợp chặt chẽ giữa ổn định kinh tế vĩ mô, mức thuế suất cạnh tranh và các đặc khu kinh tế cùng các thể chế công hiệu quả và minh bạch, đi kèm với việc đầu tư vào hệ thống đại học và phát triển lực lượng lao động am hiểu công nghệ, thành thạo tiếng Anh. Ngoài ra, số hóa đã giúp tiết giảm chi phí kinh doanh và thu hút nhân tài toàn cầu.
Tư cách thành viên EU là một thành tố then chốt trong các chiến lược tăng trưởng này, bởi thị trường đơn nhất đã mang lại quy mô thị trường cần thiết để thu hút các dòng vốn đầu tư quy mô lớn.
Các nhà kinh tế cũng chỉ ra rằng hiệu ứng liên kết giữa các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa có nhiều khả năng xuất hiện hơn khi sản phẩm được tiêu thụ tại thị trường trong nước. Sự hỗ trợ của EU đối với phát triển hạ tầng thông qua Quỹ liên kết (Cohesion Fund), Quỹ Phát triển khu vực EU và Cơ sở kết nối châu Âu (Connecting Europe Facility) đã giúp cải thiện tính kết nối và giảm chi phí logistics trên khắp EU.
Sự chuyển hướng của Việt Nam sang các ngành công nghiệp công nghệ cao vừa là sự tất yếu vừa là thách thức. Khi các động lực của mô hình tăng trưởng cũ – bao gồm lao động giá rẻ, chuyển dịch cơ cấu và lắp ráp kỹ năng thấp – đã dần cạn kiệt thì việc nâng cấp công nghệ là lựa chọn thay thế duy nhất.
Các ví dụ từ Ireland, Estonia, Ba Lan và Cộng hòa Czech đã chứng minh rằng con đường này hoàn toàn khả thi đối với những quốc gia sẵn sàng đầu tư vào thể chế, nguồn vốn con người và sự kết nối.
Thành công phụ thuộc vào khâu thực thi. Việt Nam phải tăng cường hơn nữa năng lực công nghệ của các doanh nghiệp nội địa, đồng thời duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô và hiệu quả thể chế – đây là những yếu tố thu hút đầu tư nước ngoài trong giai đoạn đầu.
Để có quy mô thị trường và sự hỗ trợ thể chế như EU đã cung cấp cho các nền kinh tế Trung Âu, Việt Nam cần tăng cường hội nhập sâu rộng hơn với các nền kinh tế Đông Á. Các chuỗi cung ứng kết nối Việt Nam với Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc) và Trung Quốc tạo ra những kênh dẫn tự nhiên cho quá trình chuyển giao công nghệ và tiếp cận thị trường.
Quá trình chuyển đổi này sẽ không hề suôn sẻ. Việc xây dựng các trường đại học nghiên cứu, nuôi dưỡng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và thiết lập các hiệu ứng lan tỏa công nghệ đòi hỏi thời gian và sự cam kết. Tuy nhiên Việt Nam đã từng chứng minh khả năng thích ứng tuyệt vời của mình trước đây.
Đạt được vị thế quốc gia thu nhập cao vào năm 2045 chỉ là thách thức mới nhất trong một chuỗi dài những thách thức tạo nên con đường đi của Việt Nam: từ một quốc gia bị đô hộ đến độc lập và phồn vinh.

Đồ họa: HẢI HÀ
Nâng chất nguồn nhân lực
Theo nghị quyết 57 ban hành tháng 12-2024, đến năm 2030 Chính phủ sẽ tăng chi cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) lên 2% GDP, đặt mục tiêu kinh tế số đóng góp 30% vào GDP năm 2030 và 50% vào năm 2045. Nâng cấp các trường đại học quốc gia và vùng sẽ giúp cải thiện chất lượng nguồn nhân lực, đồng thời hình thành nên các trung tâm nghiên cứu và đổi mới sáng tạo mới.
Việt Nam sẽ tiến lên các nấc thang cao hơn trong chuỗi giá trị công nghiệp thuộc những ngành mới nổi, nhằm giảm bớt sự phụ thuộc vào các hoạt động gia công, lắp ráp và gia tăng tỉ lệ nội địa hóa của hàng hóa xuất khẩu. Các kỹ năng và năng lực tích hợp trong lực lượng lao động sẽ được ưu tiên hơn là quy mô của lực lượng lao động đó.
Nâng cấp các ngành công nghiệp nội địa sẽ giảm bớt nhu cầu nhập khẩu linh kiện, giúp tiết kiệm nguồn ngoại hối khan hiếm và tạo ra doanh thu xuất khẩu cao hơn. Bên cạnh đó nâng cao năng lực công nghệ của các doanh nghiệp trong nước sẽ tạo ra hiệu ứng lan tỏa công nghệ từ khối ngoại sang khối nội, giúp các doanh nghiệp nội địa đạt năng suất và khả năng cạnh tranh cao hơn.
Nguồn: https://tuoitre.vn/thu-nhap-cao-nam-2045-muc-tieu-trong-tam-tay-20260208233406027.htm


