
Bệnh Whipple là bệnh nhiễm khuẩn ít gặp do vi khuẩn Tropheryma whipplei, gây cản trở khả năng xử lý và hấp thu chất dinh dưỡng của cơ thể.
Định nghĩa
Bệnh chủ yếu xảy ra ở hệ tiêu hóa, đặc biệt là ruột non nhưng cũng có thể ảnh hưởng đến các bộ phận khác của cơ thể, bao gồm mắt, tim, phổi, khớp, hệ thần kinh trung ương (não và tủy sống), các dây thần kinh khắp cơ thể.
Triệu chứng
Các biểu hiện của bệnh Whipple khác nhau ở mỗi người và thường tiến triển âm thầm, chậm rãi; đau khớp hay xuất hiện sớm, trong khi các triệu chứng tiêu hóa có thể chỉ bộc lộ sau nhiều năm. Các dấu hiệu điển hình bao gồm:
- Mệt mỏi
- Yếu sức
- Thiếu máu
- Đau và cứng khớp, đặc biệt ở cổ chân, đầu gối và các ngón tay
- Đau bụng
- Tiêu chảy
- Phân mỡ hoặc phân lẫn máu
- Chán ăn
- Da sẫm màu
- Hạch bạch huyết to
- Ho mạn tính
- Đau ngực
- Suy tim
Những người mắc bệnh Whipple ở giai đoạn nặng hơn có thể gặp các vấn đề thần kinh. Ở giai đoạn này, khoảng 40% người bệnh có thể xuất hiện một số triệu chứng sau:
- Sa sút trí tuệ
- Rối loạn thị lực
- Đau đầu
- Co giật
- Mất kiểm soát vận động cơ
- Suy giảm trí nhớ
Các dấu hiệu cần đi khám sớm:
- Đau khớp kéo dài
- Đau bụng
- Các triệu chứng không giảm hoặc tái phát sau khi điều trị bệnh Whipple
Nguyên nhân
Bệnh Whipple do vi khuẩn Tropheryma whipplei (T. whipplei) gây ra. Chúng cư ngụ phổ biến trong đất và nước. Không phải tất cả những người mang vi khuẩn T. whipplei đều mắc bệnh Whipple. Một số nhà nghiên cứu cho rằng một số người có yếu tố di truyền nhạy cảm khiến họ dễ mắc bệnh hơn khi tiếp xúc với vi khuẩn này.
Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi, tuy nhiên các triệu chứng thường bắt đầu xuất hiện ở nhóm người 30-60 tuổi.
Chẩn đoán
Để chẩn đoán bệnh Whipple, trước hết bác sĩ khai thác tiền sử và khám lâm sàng, chú ý các dấu hiệu như hạch bạch huyết to, tiếng thổi tim hoặc phù mô. Dựa trên biểu hiện cụ thể, bác sĩ sẽ chỉ định các xét nghiệm phù hợp.
Các thăm dò ban đầu thường bao gồm xét nghiệm máu để phát hiện thiếu máu, rối loạn điện giải, đánh giá chức năng gan và dấu hiệu kém hấp thu. Nếu người bệnh có biểu hiện đau hoặc sưng khớp, bác sĩ có thể chỉ định thêm các xét nghiệm liên quan đến viêm khớp. Trường hợp tiêu chảy kéo dài, xét nghiệm phân và nội soi tiêu hóa được thực hiện nhằm quan sát niêm mạc ruột và tìm nguyên nhân.
Chẩn đoán xác định cần dựa vào sinh thiết cơ quan bị ảnh hưởng kết hợp xét nghiệm PCR trên mẫu mô. Tùy kết quả, người bệnh có thể được chuyển đến bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa để tiếp tục theo dõi và điều trị.
Tiên lượng bệnh
Với bệnh Whipple, chẩn đoán và điều trị càng sớm thì tiên lượng càng tốt. Mặc dù bệnh có thể điều trị được và đa số người bệnh đạt kết quả tốt, song tình trạng tái phát khá phổ biến. Vì vậy, người đã điều trị bệnh Whipple cần được theo dõi chặt chẽ, bao gồm nội soi kèm sinh thiết và các xét nghiệm khác một năm sau chẩn đoán, điều trị.
Những người có triệu chứng thần kinh có nguy cơ cao hơn gặp các hậu quả sức khỏe nghiêm trọng, bao gồm tổn thương thần kinh nặng, thậm chí tử vong. Do đó, chẩn đoán sớm là yếu tố then chốt.
Điều trị
Điều trị bệnh Whipple thường bao gồm dùng kháng sinh kéo dài, ít nhất 1-2 năm, nhằm tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh. Tùy mức độ tổn thương do kém hấp thu ở ruột, bác sĩ có thể chỉ định truyền dịch và điện giải tĩnh mạch (như natri, kali – cần thiết cho hoạt động của tim và não), cũng như bổ sung sắt, folate, canxi, vitamin D.
Bác sĩ có thể khuyến nghị chế độ ăn giàu năng lượng và protein nhằm cải thiện tình trạng suy dinh dưỡng thường gặp ở người bệnh.
Phòng ngừa
Hiện chưa có biện pháp phòng ngừa đặc hiệu đối với bệnh Whipple.
Biến chứn
Người mắc bệnh Whipple có thể gặp biến chứng do suy dinh dưỡng gây ra bởi tổn thương ruột non. Các biến chứng khác ở nhiều cơ quan có thể nặng hơn nếu chẩn đoán hoặc điều trị chậm trễ bao gồm:
- Thiếu máu (lên đến 90% người bệnh bị thiếu máu)
- Sụt cân
- Thiếu hụt dinh dưỡng
- Tiêu chảy
- Đau khớp
- Các vấn đề tim mạch (như viêm màng ngoài tim hoặc viêm nội tâm mạc)
- Rối loạn thần kinh như nói khó, lú lẫn, co giật, sảng, suy giảm nhận thức hoặc cử động bất thường
- Tái phát triệu chứng bệnh Whipple trong hoặc sau điều trị (có thể do kháng kháng sinh).
Bảo Bảo (Theo Everyday Health)
Các bài viết của VnExpress có tính chất tham khảo, không thay thế cho việc chẩn đoán hoặc điều trị y khoa.
Nguồn: https://vnexpress.net/suc-khoe/cam-nang/benh-whipple-405

