Mỹ từng mở chiến dịch hộ tống tàu dầu qua Eo biển Hormuz năm 1987, nhưng sự cố siêu tàu Bridgeton trúng thủy lôi đã giáng đòn vào hình ảnh hải quân nước này.
Cuộc chiến tranh giữa Iran và Iraq bùng nổ vào năm 1980 do tranh chấp lãnh thổ và kéo dài nhiều năm sau đó, biến tuyến hàng hải ở Vịnh Ba Tư thành chiến trường, khi hai bên mở rộng xung đột ra biển nhằm gây thiệt hại cho hoạt động xuất khẩu dầu mỏ của đối phương.
Cuộc chiến Tàu dầu bắt đầu khi Iraq năm 1984 tấn công đảo Kharg, cửa ngõ dầu mỏ của Iran, với ý đồ khiến Tehran phong tỏa Eo biển Hormuz để đáp trả, từ đó kéo Mỹ can thiệp. Tuy nhiên, Iran lại chọn nhắm đến các tàu dầu trung lập, đặc biệt là của Kuwait, trung gian vận chuyển dầu cho Iraq.
Năm 1987, Kuwait kêu gọi cả Liên Xô và Mỹ hỗ trợ đối phó với các đòn tập kích từ Iran. Sau 4 vụ tàu dầu trúng thủy lôi trong tháng 5-6/1987, trong đó có một tàu do Liên Xô cho Kuwait thuê, Mỹ đề xuất để các tàu dầu Kuwait treo cờ Mỹ và di chuyển theo đoàn, được hải quân Mỹ hộ tống để đi qua Eo biển Hormuz.
Nỗ lực này được đặt tên là Chiến dịch Ý chí Kiên định (Earnest Will). Tuy nhiên, chuyến hộ tống đầu tiên đã gặp sự cố, khiến hải quân Mỹ lúng túng và làm dấy lên câu hỏi về mức độ chuẩn bị của lực lượng này trước chiến tranh phi đối xứng.
Tàu USS Kidd đi sau tàu dầu Bridgeton trong chuyến hộ tống ngày 22/8/1987. Ảnh: US Navy
Để bảo vệ các tàu dầu của Kuwait, Mỹ triển khai nhiều tàu hộ vệ, tàu tuần dương và tàu khu trục tại Vịnh Ba Tư và Eo biển Hormuz. Ngoài ra, Mỹ còn có nhóm tác chiến tàu sân bay USS Constellation hiện diện trên Ấn Độ Dương, hỗ trợ hoạt động tuần tra trong khu vực.
Ngày 21/7/1987, hải quân Mỹ bắt đầu đợt hộ tống đầu tiên, với ba chiến hạm bảo vệ siêu tàu dầu Bridgeton, tên cũ khi còn treo cờ Kuwait là al-Rekkah, có lượng giãn nước hơn 414.000 tấn và tàu chở khí đốt Gas Prince hơn 48.000 tấn. Đoàn tàu dầu và chiến hạm hộ tống xuất phát từ Vịnh Oman, đi qua Eo biển Hormuz an toàn, dù có lúc bị 4 tiêm kích F-4 của Iran áp sát.
Hai ngày sau, Iran tuyên bố đội tàu này chở “hàng hóa bị cấm” và tư lệnh Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC) dự định triển khai xuồng cao tốc từ đảo Farsi để bắt giữ. Tuy nhiên, sau khi tham vấn Lãnh tụ Tối cao Iran Ruhollah Khomeini, IRGC hủy bỏ kế hoạch đối đầu trực tiếp với đội tàu chiến hộ tống của Mỹ.
Theo National Interest, hải quân IRGC trong đêm cùng ngày đã âm thầm rải ba cụm thủy lôi, tổng cộng 60 quả, dọc theo tuyến đường đoàn tàu dự kiến đi qua, mỗi cụm cách nhau khoảng 500 m.
Thủy lôi – ‘sát thủ ngầm’ có thể làm tê liệt Eo biển Hormuz
7h sáng ngày 24/7/1987, tàu Bridgeton va chạm với một quả thủy lôi ở khu vực cách đảo Farsi khoảng 20 km về phía tây, cách Kuwait 190 km về phía đông nam, tạo ra tiếng nổ lớn.
“Chúng tôi bị trúng mìn! Chúng tôi bị trúng mìn!”, Richard Vogel, trung úy hải quân Mỹ được cử canh gác trên tàu Bridgeton, thông báo qua bộ đàm khi liên lạc với khu trục hạm USS Kidd, tàu chỉ huy của đoàn hộ tống hải quân Mỹ. Vogel cho hay các sĩ quan và thủy thủ đứng trên buồng lái suýt ngã vì chấn động do vụ nổ thủy lôi gây ra.
Quả thủy lôi tạo ra lỗ hổng có kích thước 2,6 x 3 m ở mạn trái tàu Bridgeton, khiến 5 trong số 31 khoang hàng ngập nước.
Binh sĩ Mỹ lập tức mang súng trường lên mũi tàu USS Kidd để bắn và kích nổ các vật thể nghi là thủy lôi. Daniel J. Murphy Jr., chỉ huy USS Kidd, nhận định quả thủy lôi mà Bridgeton va phải có sức công phá rất lớn.
“Nếu USS Kidd trúng đòn, thiệt hại sẽ cực kỳ nghiêm trọng”, ông nói.
Ba tàu hộ tống của Mỹ quyết định di chuyển theo đội hình một hàng dọc phía sau siêu tàu chở dầu Bridgeton, bởi kích thước lớn và các khoang dầu đang rỗng giúp nó chống chịu thủy lôi tốt hơn chiến hạm Mỹ.
Trên tuần dương hạm USS Fox, thuyền trưởng William Mathis nói với phóng viên rằng Bridgeton “sẽ đóng vai trò như một tàu quét mìn có mớn nước sâu”.
Bridgeton tiếp tục di chuyển với tốc độ giảm xuống còn khoảng 18 km/h, liên tục bơm nước ra bên ngoài. Tàu thả neo cách cảng Al Ahmadi của Kuwait vài km vào 19h cùng ngày, còn Gas Prince cập bến tại cảng. Ba tàu hải quân Mỹ bàn giao nhiệm vụ bảo vệ cho các tàu tuần tra Kuwait. Tàu Bridgeton sau đó được đưa sang Dubai, Các tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE), để sửa chữa.
Hướng di chuyển của các tàu trong Chiến dịch Ý chí Kiên định do Mỹ khởi xướng. Đồ họa: Wikipedia
Iran khi đó gọi sự việc của tàu Bridgeton là “đòn giáng không thể khắc phục vào uy tín chính trị và quân sự của Mỹ”.
“Hệ thống tính toán của Mỹ đã bị vô hiệu hóa bởi những bàn tay vô hình. Điều đó cho thấy người Mỹ dễ tổn thương đến mức nào, bất chấp cuộc triển khai quân sự khổng lồ và chưa từng có của họ tại Vịnh Ba Tư để hộ tống các tàu chở dầu Kuwait”, truyền thông Iran dẫn lời thủ tướng Iran lúc đó là Hussein Moussavi.
Các nghị sĩ Mỹ chỉ trích chiến dịch, bởi họ đã nhiều lần cảnh báo về nguy cơ từ thủy lôi trong vùng biển Vịnh Ba Tư. Họ cũng nhấn mạnh rằng không có gì chắc chắn về việc ai đã rải những quả thủy lôi này, khiến việc trả đũa trở nên khó có cơ sở chính đáng.
Sự kiện tàu Bridgeton trở thành thắng lợi tuyên truyền cho Iran và biểu tượng cho rủi ro khi Mỹ can dự quân sự nhằm bảo vệ vận tải dầu ở Vùng Vịnh.
Bị “mất mặt” bởi sự cố trên, hải quân Mỹ đã lên phương án khắc phục, như tăng cường đặc nhiệm SEAL cùng lính thủy đánh bộ tuần tra để ngăn Iran rải thủy lôi. Các lực lượng này có thể cơ động trên phạm vi rộng, phù hợp để đối phó mối đe dọa phi đối xứng và ít tốn kém hơn so với triển khai thêm tàu chiến.
Tuy nhiên, do yếu tố chính trị, cả Kuwait và Arab Saudi đều không cho quân đội Mỹ triển khai lực lượng đối phó Iran trên lãnh thổ của họ. Giải pháp lúc đó là Kuwait cho quân đội Mỹ thuê hai sà lan xây dựng cỡ lớn Hercules và Wimbrown để bố trí binh sĩ tuần tra.
Hải quân Mỹ tiếp tục hộ tống các tàu dầu qua Eo biển Hormuz, có thời điểm triển khai hơn 30 chiến hạm đến khu vực để hỗ trợ chiến dịch. Trong những tháng sau đó có hai sự kiện đáng chú ý là tàu dầu Sea Isle City mang cờ Mỹ bị trúng tên lửa từ Iran và tàu chiến USS Samuel B. Roberts trúng thủy lôi, khiến Washington đáp trả mạnh mẽ vào Tehran.
Các đợt tấn công từ Iran nhằm vào tàu dầu trung lập giảm đáng kể. Tháng 7/1988, Iran chấp thuận ngừng bắn với Iraq, kết thúc cuộc chiến dài 8 năm. Tháng 9/1988, tàu USS Vandegrift thực hiện chuyến hộ tống cuối cùng của chiến dịch Ý chí Kiên định. Các lực lượng Mỹ rời khu vực về nước.
Gần 40 năm sau, Eo biển Hormuz lại một lần nữa trở thành “điểm nghẽn” trong dòng chảy năng lượng toàn cầu, khi Iran tập kích các tàu dầu, tàu hàng đi qua đây để đáp trả chiến dịch tấn công quy mô lớn của Mỹ, Israel.
Hoạt động quân sự của Iran, cùng mối đe dọa tiềm ẩn từ những quả thủy lôi “tử thần”, khiến loạt tàu dầu không dám đi qua vùng biển huyết mạch này, trong khi hải quân Mỹ cũng cho hay họ chưa đủ nguồn lực để hộ tống tàu dầu qua eo biển.
Khi Tổng thống Mỹ Donald Trump kêu gọi các nước triển khai tàu chiến để mở cửa Eo biển Hormuz, IRGC đã đáp lại một cách thách thức.
“Iran hoan nghênh mạnh mẽ việc Mỹ triển khai lực lượng hộ tống tàu chở dầu qua Eo biển Hormuz và đang chờ xem họ sẽ hiện diện ra sao tại khu vực”, phát ngôn viên IRGC Alimohammad Naini nói ngày 6/3. “Trước khi họ ra bất kỳ quyết định nào, hãy nhớ đến vụ siêu tàu chở dầu Bridgeton năm 1987”.
Như Tâm (Theo Los Angeles Times, National Interest, AFP)
Nguồn: https://vnexpress.net/chuyen-ho-tong-tau-dau-tung-khien-hai-quan-my-mat-mat-tren-vinh-ba-tu-5049759.html

