Việt Nam đang bước vào giai đoạn tăng tốc chiến lược để trở thành quốc gia thu nhập cao trong những thập niên tới. Trong hành trình đó, kinh tế số không còn là lựa chọn mà là con đường tất yếu, là động lực cốt lõi của đổi mới mô hình phát triển.
Trong Nghị quyết số 57, Bộ Chính trị đã khẳng định vai trò trung tâm của chuyển đổi số trong việc thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất lao động.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP các năm từ 2020 đến 2023 lần lượt là 12,66%, 12,88%, 12,63% và 12,33%. Sang tới nửa đầu năm 2024, tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số đạt 18,3%, vượt cao hơn tỷ lệ trung bình giai đoạn 2020-2023.
Kinh tế số Việt Nam đã đạt được những bước tiến mạnh mẽ, quan trọng trong những năm vừa qua. Trong tiến trình đó, Việt Nam đặt mục tiêu nâng giá trị gia tăng của nền kinh tế số đạt 30% so với GDP vào năm 2030.
Vai trò của kinh tế số, kinh tế xanh
Theo TS Bùi Thanh Minh, Phó Giám đốc chuyên môn, Văn phòng Ban Nghiên cứu Phát triển Kinh tế tư nhân (Ban IV), Việt Nam đang theo đuổi 2 mục tiêu lớn: Trở thành nước có thu nhập cao vào năm 2045 và thực hiện cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 (Net-zero) vào năm 2050 với sự hỗ trợ quốc tế.
Đây không phải là hai mục tiêu mâu thuẫn, mà bổ trợ cho sự phát triển bền vững, bởi tăng trưởng kinh tế nếu không đi kèm bảo vệ môi trường và nâng cao phúc lợi xã hội thì sẽ mất ý nghĩa.
“Tuy nhiên, thách thức đặt ra là rất lớn. Để đạt mục tiêu thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam cần tăng trưởng GDP bình quân 7%/năm; riêng giai đoạn 2026-2030 phải đạt mức tăng trưởng hai con số – một giai đoạn bản lề của đất nước. Đồng thời, quá trình này phải gắn với bảo vệ môi trường, chuyển đổi xanh điều mà trước nay rất ít quốc gia thực hiện thành công”, ông nhìn nhận.
Yếu tố xanh và số bổ sung cho nhau trên hành trình phát triển bền vững (Ảnh: GEP).
Dẫn kinh nghiệm của Hàn Quốc, ông Minh cho rằng quốc gia này tăng trưởng nhờ trợ cấp doanh nghiệp, dựa vào lao động giá rẻ và khai thác môi trường, trong khi Việt Nam không còn đi theo con đường đó.
Do vậy, theo TS Bùi Thanh Minh, Việt Nam cần tìm được sự hài hòa giữa tăng trưởng và phát triển bền vững, giữa chính sách quốc tế và năng lực trong nước, giữa mục tiêu quốc gia và khả năng thực tế của doanh nghiệp. Khát vọng có thể toàn cầu, nhưng hành động phải phù hợp với năng lực của đất nước.
“Kinh tế xanh và kinh tế số phải trở thành động lực tăng trưởng mới, bên cạnh các động lực truyền thống. Để làm được điều đó, cần xây dựng một hệ sinh thái chính sách đồng bộ về công nghiệp, tài khóa, nhân lực… đồng thời xác định những điểm đột phá để tối ưu cả mục tiêu tăng trưởng và phát triển bền vững”, ông nhấn mạnh.
Tương tự, PGS.TS Nguyễn Đình Thọ, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Chính sách Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cho rằng xanh và số là không thể tách rời nhau, đặc biệt trong bối cảnh thương mại toàn cầu đang chuyển hướng xanh hóa nền kinh tế.
Tất cả quy định mới của EU liên quan đến CBAM, chống phá rừng, báo cáo phi tài chính và báo cáo bền vững, quy định về tuân thủ trong cả chuỗi cung ứng… ảnh hưởng mật thiết đến xuất khẩu. KHông chỉ các nước ở liên minh châu Âu phải thực hiện các quy định, báo cáo này mà cả các quốc gia nằm trong chuỗi cung ứng như Việt Nam cũng phải tuân thủ.
“Do đó, thời gian vừa qua, chúng ta thấy các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực chịu quy định của CBAM như sắt thép, nhôm, phân bón, hóa chất, hydro, điện… đều phải thực hiện các báo cáo đáp ứng được quy định chống rò rỉ carbon. Các doanh nghiệp nông sản, kể cả các doanh nghiệp sử dụng bông trong nông sản, cũng phải tuân thủ các báo cáo này”, ông nhìn nhận.
Để thực hiện được truy xuất hàng hóa, báo cáo phi tài chính, báo cáo bền vững… ông Thọ cho rằng nếu không ứng dụng chuyển đổi xanh và chuyển đổi số thì chắc chắn chúng ta sẽ không thực hiện được.
Doanh nghiệp đang xanh, số thế nào?
Ông Nguyễn Hưng – Tổng giám đốc TPBank – nhìn nhận việc ngân hàng không đầu tư công nghệ sẽ khó có khả năng cạnh tranh và thậm chí không thể tồn tại. Vì vậy, việc bỏ chi phí cho chuyển đổi số, dữ liệu và các tiêu chuẩn liên quan đến ESG là điều tất yếu.
“ESG có thể chưa mang lại lợi nhuận trực tiếp trong ngắn hạn, nhưng lại giúp ngân hàng nâng cao năng lực quản trị, minh bạch hóa hoạt động và gia tăng uy tín trên thị trường”, ông Hưng nói.
Đặc biệt, trong các dự án có yếu tố quốc tế, tiếp cận nguồn vốn nước ngoài hoặc hợp tác với các tổ chức tài chính toàn cầu, ESG đang trở thành điều kiện gần như bắt buộc. Lúc này, chi phí đầu tư cho ESG được xem như khoản đầu tư cho nguồn thu trong tương lai, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh.
Ông Nguyễn Hưng nêu thực tiễn thực hành kinh tế xanh, kinh tế số tại TPBank (Ảnh: Mạnh Quân).
Trong khi đó, bà Trần Thị Thanh Huyền, Phó giám đốc Vận hành Tập đoàn Y tế Phương Châu, cho biết doanh nghiệp chú trọng đào tạo, nâng cao nhận thức ESG cho đội ngũ nhân sự, coi đây là yếu tố nền tảng để chuyển đổi bền vững.
Theo bà Huyền, doanh nghiệp tiếp cận ESG không chỉ như một bộ tiêu chí, mà trước hết là sự trân trọng và trách nhiệm trong quá trình vận hành hệ thống y tế. Với đặc thù ngành y gắn chặt với con người, bệnh nhân và cộng đồng, việc thực thi ESG tại Phương Châu được xây dựng từ chính hoạt động thường nhật của bệnh viện. Trong đó, các yếu tố môi trường như quản lý rác thải y tế, tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải được lồng ghép trực tiếp vào quy trình vận hành.
“ESG không dừng ở khẩu hiệu. Nhân viên được khuyến khích hạn chế sử dụng nhựa dùng một lần, chuyển sang các vật dụng tái sử dụng, thực hành phân loại rác đúng quy định, tiết kiệm năng lượng và đẩy mạnh số hóa để giảm phát sinh chất thải”, bà Huyền nhấn mạnh.
Đồng quan điểm, ông Võ Đình Trung, Phó tổng giám đốc Trung tâm Cải tiến Đổi mới và Bền vững, Công ty cổ phần Sản xuất Nhựa Duy Tân (thuộc Tập đoàn SCG), đánh giá công nghệ chính là yếu tố giúp các cam kết phát triển bền vững được hiện thực hóa trong bối cảnh ESG ngày càng trở thành yêu cầu bắt buộc của thị trường và chuỗi cung ứng toàn cầu.
Theo ông Trung, xanh và số đóng vai trò then chốt trong phát triển bền vững của SCG (Ảnh: Thành Đông).
Theo ông Trung, hiện nay, không ít doanh nghiệp đã xây dựng chiến lược và tuyên bố mục tiêu ESG, song thách thức lớn nhất nằm ở khâu triển khai. Khoảng cách giữa cam kết và hành động chỉ có thể được thu hẹp khi doanh nghiệp có công cụ để đo lường, theo dõi, điều chỉnh liên tục.
Công nghệ, từ dữ liệu số, IoT đến các nền tảng phân tích, chính là “cầu nối” giúp ESG đi vào vận hành thực tế.
Với SCG, ESG chỉ thực sự tạo ra tác động bền vững khi được triển khai xuyên suốt toàn bộ chuỗi giá trị, thay vì chỉ dừng ở cấp tập đoàn. “Bên cạnh việc áp dụng các tiêu chuẩn ESG trong nội bộ, chúng tôi chú trọng hợp tác với đối tác, nhà thầu và doanh nghiệp trong nước để cùng nâng cao năng lực triển khai”, ông Trung chia sẻ.
Ở nhiều dự án, doanh nghiệp không chỉ đưa ra yêu cầu tuân thủ, mà còn cùng đối tác rà soát quy trình sản xuất, cải thiện quản lý chất thải và tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên. Cách tiếp cận dựa trên hợp tác này giúp ESG trở thành những thay đổi cụ thể, khả thi trong hoạt động của toàn bộ hệ sinh thái doanh nghiệp.
Công nghệ tiếp tục đóng vai trò nền tảng trong cách SCG triển khai ESG. Việc ứng dụng các nền tảng số, tự động hóa và phân tích dữ liệu giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả vận hành, giảm lãng phí, tăng tính minh bạch trong quản trị. Khi dữ liệu được số hóa và theo dõi liên tục, các mục tiêu ESG không còn là định hướng chung chung mà trở thành những chỉ số cụ thể, có thể đo lường và cải thiện theo thời gian.
Theo ông Trung, thực tiễn cho thấy những doanh nghiệp kiên định với ESG thường có khả năng thích ứng tốt hơn trước biến động thị trường và duy trì năng lực cạnh tranh trong dài hạn.
Nguồn: https://dantri.com.vn/kinh-doanh/hai-tu-khoa-vang-tren-con-duong-dua-viet-nam-but-pha-trong-ky-nguyen-moi-20260116102416516.htm

