
Hà NộiMẹ qua đời, cha tái hôn và có thêm 2 con. 20 năm sau ngày cha mẹ qua đời, 2 mảnh đất gần 5.000 m2 thành nguyên nhân khiến 5 người con cùng cha khác liên quan vụ kiện đòi quyền lợi thừa kế.
Ngày 5/2, vụ tranh chấp chia tài sản thừa kế của gia đình này được TAND tỉnh Phú Thọ theo trình tự phúc thẩm, do có kháng nghị của VKS và kháng cáo của bị đơn. Đương sự trong vụ kiện là 5 anh em cùng cha khác mẹ.
Hồ sơ thể hiện, trong cuộc hôn nhân đầu, cụ ông có 3 con, bà Gái, ông Hai và ông Ba, 72 tuổi- nguyên đơn. Năm 1955, vợ cả qua đời, cụ ông tái hôn và có thêm hai con là bà Tư, (67 tuổi bị đơn), và ông Năm.
Tài sản sau 2 cuộc hôn nhân là 2 thửa đất tại thị trấn Tam Sơn, tỉnh Phú Thọ. Trong đó mảnh nhỏ diện tích 1.100 m2 và mảnh lớn 3.600 m2. Nguồn gốc thửa đất do bố mẹ của cụ ông khai hoang từ xưa. Cụ ông và 2 cụ bà để lại cho các con.
Cụ ông mất năm 1991 và người vợ hai mất 2004, đều không để lại di chúc. Song theo nguyên đơn (ông Ba), hai người em khác mẹ (bà Tư, ông Năm) “tự ý chia tài sản”.
Năm 2004, bà Tư đã được cấp sổ đỏ cho mảnh đất 1.100 m2 và ông Năm được cấp sổ đỏ cho mảnh đất còn lại. Ông Ba đo đó khởi kiện yêu cầu chia tài sản thừa kế theo pháp luật.
Phía bị đơn, bà Tư trình bày, khi còn sống, khoảng 1985, cha mẹ họ đã chia miệng nói cho ông Ba mảnh đất nhỏ 1.100 m2. Song vợ chồng Ba đã trả lại bố mẹ và về sống tại khu đất khác ổn định đến nay.
Năm 1989, bà Tư lấy chồng vẫn ở chung với bố mẹ. Một năm, bà sau ly hôn, nên bố mẹ cho bà phần đất mà ông Ba đã từ chối, anh em trong nhà không ai ý kiến. Năm 1995, bà và anh em trong nhà xây căn nhà ngói cấp bốn, ở ổn định đến nay.
Năm 2002, cụ bà (vợ hai) bảo ông Hai làm thủ tục kê khai để cấp sổ đỏ cho các em, theo đó bà Tư đứng tên mảnh nhỏ, ông Năm mảnh lớn. Ông Năm mất năm 2006 và tất cả những người thừa kế của ông đồng thuận tặng toàn bộ tài sản của người quá cố cho vợ ông.
Năm 2014, ông Ba xin bà Tư một mảnh đất cho con ông ở, do nhà đông con. Người em gái đồng ý, cắt 177 m2 cho anh trai. Sau khi ông Tân được cấp sổ, đã cho con trai và xây nhà 3 tầng, không ai có ý kiến gì. Nhà 5 anh chị em đều ở cạnh nhau.
Nay ông Ba yêu cầu chia cả 2 thửa đất lớn và nhỏ theo pháp luật thừa kế. Bà Tư và em dâu (vợ ông Năm) phản đối và nói nếu phải chia, họ sẽ nhường phần mình được hưởng cho nhau, để không ai phải thanh toán gì thêm.
Bà Gái- người chị cả đồng ý với ông Ba, đề nghị nhận tài sản bằng đất. Ông Hai đã qua đời, vợ ông do đó cũng nhất trí chia đất, nhận tài sản bằng đất,
UBND xã nơi có đất khẳng định hồ sơ cấp sổ đỏ cho bà Tư, ông Năm được lập đúng thủ tục, được Nhà nước công nhận quyền sử dụng.
Tại phiên sơ thẩm, nguyên đơn giữ vững quan điểm rằng hai thửa đất là di sản chung của bố mẹ và chưa từng được chia chính thức bằng văn bản. Ông Ba yêu cầu Tòa án chia di sản của người mẹ kế cho các hàng thừa kế theo quy định pháp luật và trả lại sự công bằng cho 3 người con của cuộc hôn nhân đầu.
Ngược lại, bị đơn cho rằng tài sản đã được chia tách thực tế từ lâu. Họ lập luận rằng mình là người trực tiếp ở cùng, chăm sóc bố mẹ cho đến khi qua đời, đồng thời có công quản lý, tôn tạo và nộp thuế cho Nhà nước suốt hàng chục năm qua.
Thời điểm cha mẹ cho đất, khi họ làm nhà và được cấp sổ đỏ và 20 năm qua sinh sống, các anh chị em đều đồng ý. Họ không đồng ý chia thêm diện tích đất vì cho rằng các anh em khác đã có cuộc sống ổn định ở nơi khác hoặc đã nhận được phần diện tích nhất định.
Con chung, con riêng đều được hưởng di sản thừa kế
Trước khi đưa ra phán quyết, Tòa sơ thẩm xác định giá trị hai thửa đất. Với đơn giá đất thổ cư là 2,5 triệu đồng/m2 và đất trồng cây lâu năm là 700.000 đồng/m2, mảnh nhỏ (nơi bà Tư đang ở và đã cắt một phần cho ông Ba) có giá trị 1,44 tỷ đồng, mảnh lớn (nơi vợ ông Năm đang ở), có giá trị 3,26 tỷ đồng.
Với thửa đất nhỏ, tòa xác định các đương sự đều thừa nhận nguồn gốc thửa đất là của cha mẹ, được cho bà Tư để ở riêng từ 1989. Năm 1995, bố mẹ, anh chị em trong gia đình và bà Tư đã cùng nhau làm nhà cho bà Tư ở từ đó cho đến nay và được cấp sổ đỏ năm 2004.
Trong suốt quá trình bà Tư sử dụng đất, sau đó là cho ông Ba 177 m2, tất cả anh chị em trong gia đình không ai có ý kiển phản đối hay thắc mắc gì dù họ đều sống gần cạnh nhau.
Cụ ông chết năm 1991, đã hết thời hiệu chia thừa kế (30 năm) nên 1/2 đất, thuộc sở hữu cụ ông thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản- bà Tư. 1/2 còn lại đã được cụ bà (vợ hai) để lại cho bà Tư từ thời điểm cụ còn sống, các con đều xác nhận, không thắc mắc gì.
Ông Ba và các anh chị em trong gia đình đều biết và không có ý kiến phản đối. Bà Tư đã sử dụng ổn định, lâu dài, sau đó được cấp sổ đỏ là có căn cứ, đúng pháp luật. Tòa cũng dẫn Án lệ số 03/2016 của Hội đồng Thầm phán TAND Tối cao nội dung: “Trường hợp cha mẹ đã cho người con một diện tích đất và người con đã xây dựng nhà kiên cố trên diện tích đất đó để làm nơi ở, khi người con xây dựng nhà thì cha mẹ và những người khác trong gia đình không có ý kiến phản đối gì; người con đã sử dụng nhà, đất liên tục, công khai, ổn định và đã tiến hành việc kê khai đất, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải xác định vợ chồng người con đã được tặng cho quyền sử dụng đất“.
Do vậy, yêu cầu của ông Tân về việc hủy sổ đỏ của bà Tư để chia lại thửa đất này bị bác bỏ.
Với thửa đất lớn, tòa xác định do cụ ông và vợ đầu tạo lập. Nhưng vợ đầu mất khi các con còn nhỏ. Toàn bộ tài sản chung của vợ chồng do cụ ông quản lý, sử dụng. Cùng năm vợ mất, cụ ông tái hôn, cùng nhau nuôi dạy 3 con riêng. Theo tòa “điều đó thể hiện cụ ông đã tự nguyện nhập khối tài sản chung với vợ trước vào tài sản chung với vợ hai. Con cái không có đóng góp.
Vợ chồng ông Năm, người con út, sống cùng cha mẹ đến khi cha mẹ chết, tuy vợ chồng ông Năm nói được bố mẹ cho nhưng không có chứng cứ, nên cần xác định đây là tài sản thừa kế hai cụ để lại.
Cả đại gia đình xác nhận dù 3 con riêng của cụ ông là với vợ đầu, nhưng đối xử chăm sóc như mẹ con, nên 3 người này cũng được chia phần tài sản của mẹ kế, tòa nêu.
Khi chia tài sản, tòa cũng xét công sức của các đương sự, thấy rằng các anh chị đều lập gia đình và từ đó ra ở riêng, chỉ có vợ chồng Năm ở chung chăm sóc đến khi bố mẹ qua đời. Họ cũng có công tôn tạo, duy trì tài sản nên họ cần được hưởng nhiều hơn một phần so với 4 anh chị lớn.
Tài sản cần chia là thừa đất lớn, hơn 3.600 m2, trong đó 1/2 của cụ ông đã hết thời hiệu chia thừa kế, đương nhiện thuộc về người đang quản lý, sử dụng lâu dài là vợ ông Năm.
Do đó chỉ cần chia phần di sản của cụ bà, tức diện tích 1.800 m2. Mỗi người thừa kế của cụ được hưởng 302 m2. Tòa công nhận sự tự nguyện của bà Tư, nhường phần của mình cho em dâu.
Do đó, tòa tuyên 3 người con riêng của cụ ông, trong đó có nguyên đơn, mỗi người được hưởng 302 m2. Phần còn lại của thửa đất thuộc sở hữu của vợ người con út.
Sau bản án sơ thẩm, VKS đã có kháng nghị cho rằng dù vợ cả mất sớm nhưng mảnh đất này vẫn cần được xác định là tài sản chung thời kỳ hôn nhân. Người vợ cả do đó có 1/2 sở hữu mảnh đất này.
Cùng năm, cụ ông tái hôn. Điều 15 Luật Hôn nhân gia đình 1959 xác định “Vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới”.
Do đó 1/2 thửa đất khi này không phải là tài sản riêng của cụ ông, mà là tài sản chung của cụ và vợ hai. Do đó, thửa đất này thực tế có 3 chủ sở hữu là cụ ông và 2 người vợ. Trong khi đó, Tòa sơ thẩm chỉ xác định thửa đất có 2 chủ sở hữu là cụ ông và người vợ hai. Theo VKS, cách phân định này chưa chính xác, dẫn tới sai sót trong cách chia di sản.
Do đó kháng nghị một phần bản án, đề nghị cấp phúc thẩm sửa lại theo hướng trên.
Phiên tòa phúc thẩm đang tiếp tục làm việc.
*Tên các đương sự đã thay đổi
Thanh Lam
Nguồn: https://vnexpress.net/nam-chi-em-cung-cha-khac-me-tranh-chap-quyen-loi-5-000-m2-dat-thua-ke-5014225.html

