Phóng viên: Nhiều năm qua, chỉ tiêu độ che phủ rừng thường được nhấn mạnh. Tuy nhiên, thực tế cho thấy độ che phủ tăng không đồng nghĩa với chất lượng hệ sinh thái được phục hồi. Ngành lâm nghiệp đang thay đổi cách tiếp cận này như thế nào?
Ông Trần Quang Bảo: Độ che phủ rừng của Việt Nam đã tăng từ mức thấp nhất khoảng 30% vào những năm 1990 lên khoảng 42% hiện nay. Đây là kết quả của nỗ lực lớn trong quản lý, bảo vệ và phục hồi rừng. Tuy nhiên, phần lớn diện tích rừng tự nhiên hiện nay vẫn là rừng trung bình và rừng nghèo do tác động lịch sử kéo dài.
Vì vậy, phục hồi chất lượng rừng được xác định là trọng tâm, gắn với bảo tồn đa dạng sinh học, thực hiện các cam kết quốc tế và ứng phó với biến đổi khí hậu. Một trong những chỉ đạo quan trọng là Chỉ thị 13 của Ban Bí thư về tăng cường quản lý, bảo vệ rừng, đã được thể chế hóa trong Luật Lâm nghiệp.
Theo đó, từ nay đến ít nhất năm 2030, Việt Nam dừng khai thác gỗ từ rừng tự nhiên, chỉ cho phép chuyển mục đích sử dụng trong những trường hợp thật sự cấp thiết. Song song với việc bảo vệ rừng, Nhà nước tăng cường chính sách hỗ trợ sinh kế cho người dân như du lịch sinh thái, trồng cây dược liệu dưới tán rừng, để người dân có thu nhập trong thời gian không khai thác gỗ.
Song song với bảo vệ rừng, Nhà nước tăng cường chính sách hỗ trợ sinh kế như phát triển du lịch sinh thái, trồng dược liệu dưới tán rừng, giúp người dân có thu nhập trong thời gian chưa khai thác gỗ. (Ảnh: Ngọc Hoan)
Song song với bảo vệ rừng, Nhà nước tăng cường chính sách hỗ trợ sinh kế như phát triển du lịch sinh thái, trồng dược liệu dưới tán rừng, giúp người dân có thu nhập trong thời gian chưa khai thác gỗ. (Ảnh: Ngọc Hoan)
Phóng viên: Chủ trương phát triển rừng gỗ lớn đã được đặt ra nhiều năm, nhưng diện tích rừng chu kỳ dài vẫn còn khiêm tốn. Theo ông, đâu là những rào cản lớn nhất hiện nay?
Ông Trần Quang Bảo: Rào cản lớn nhất vẫn là chu kỳ đầu tư dài. Quỹ đất đủ điều kiện trồng rừng gỗ lớn tập trung chủ yếu ở các công ty nông, lâm nghiệp, trong khi phần lớn diện tích rừng sản xuất còn lại do người dân quản lý, lại manh mún và chịu áp lực sinh kế trước mắt.
Giải pháp là phải hình thành các vùng nguyên liệu quy mô đủ lớn thông qua liên kết với doanh nghiệp. Một số mô hình tại Huế, Quảng Trị, Tuyên Quang đã cho thấy hiệu quả, nhưng quy mô vẫn còn hạn chế. Ngoài ra, chính sách hỗ trợ cho rừng gỗ lớn dù đã có nhưng chưa đủ mạnh, trong khi rủi ro dài hạn khiến tín dụng và bảo hiểm rừng trồng còn dè dặt.
Giải pháp là phải hình thành các vùng nguyên liệu quy mô đủ lớn thông qua liên kết với doanh nghiệp.
Ông Trần Quang Bảo, Cục trưởng Cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Môi trường
Ông Trần Quang Bảo, Cục trưởng Cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Môi trường
Phóng viên: Thực tế cho thấy có doanh nghiệp đầu tư bài bản vào trồng rừng nhưng gặp khó khăn trong giải phóng mặt bằng, thậm chí bị xâm hại rừng. Ông có thể chia sẻ thêm về vấn đề này?
Ông Trần Quang Bảo: Ngành chế biến gỗ cần vùng nguyên liệu lớn và ổn định để phát triển bền vững. Doanh nghiệp muốn thành công phải có quỹ đất hợp pháp, hoặc liên doanh, liên kết với người dân trên cơ sở chia sẻ lợi ích hài hòa. Nhiều mô hình ở Đông Nam Bộ, Tây Nguyên hay Đông Bắc Bộ đã làm tốt điều này.
Tuy nhiên, khi chưa tạo được sự đồng thuận, các xung đột về đất đai và quyền lợi có thể phát sinh. Đây là vấn đề xã hội phức tạp, đòi hỏi vai trò rất lớn của chính quyền địa phương trong việc tạo lập môi trường đầu tư, đầu tư hạ tầng và ban hành cơ chế thúc đẩy liên kết. Nếu doanh nghiệp phải tự xoay xở, việc hoạt động hiệu quả trên địa bàn là rất khó.
Nguồn: https://nhandan.vn/special/rung-viet-nam-5/index.html

