Thứ ba, Tháng hai 17, 2026
HomeĐời SốngTăng sức chống chịu trong bối cảnh thiên tai khốc liệt

Tăng sức chống chịu trong bối cảnh thiên tai khốc liệt

Giáo sư Nguyễn Bảo Huy (Khoa Lâm nghiệp, Trường đại học Tây Nguyên) nhấn mạnh, phục hồi rừng tự nhiên không thể tách rời yếu tố con người: “Không có cơ quan nhà nước nào giữ rừng, bảo vệ rừng và phát triển rừng tốt bằng người dân. Người dân chính là lực lượng lớn nhất, là người bản địa, sống dựa vào rừng và hiểu rừng”. Theo Giáo sư Huy, nếu không tạo được cơ chế để người dân thực sự trở thành chủ thể của rừng, mọi nỗ lực phục hồi sẽ khó bền vững.

Quan điểm coi con người là trung tâm của phục hồi rừng đang được hiện thực hóa tại nhiều địa phương. Tại rừng đặc dụng và rừng phòng hộ trọng điểm do Hạt Kiểm lâm số 6 (Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thái Nguyên) quản lý, với tỷ lệ che phủ rừng hơn 80%, khu vực này đóng vai trò như “lá phổi” và “túi dự trữ nước” cho vùng hạ du, việc phục hồi chất lượng rừng được xác định là nhiệm vụ trung tâm.

Ông Hoàng Anh Tuấn, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm số 6 cho biết, đơn vị đã tổ chức rà soát, thiết kế bổ sung, bảo đảm toàn bộ diện tích rừng tự nhiên hiện có được giao bảo vệ và hỗ trợ bảo vệ theo đúng quy định. Công tác khoanh nuôi, hạn chế tác động và làm giàu rừng bằng cây bản địa không chỉ là giải pháp kỹ thuật, mà là một quá trình bền bỉ để lấy lại chất lượng cho lá chắn xanh.

Đồng chí Lê Hoàng Anh, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân Dân xã Vĩnh Thông chủ trì chỉ đạo và cùng lực lượng liên ngành gồm Phòng Kinh tế, Hạt Kiểm lâm số 6, Công an, Quân sự xã, Ban quản lý Khu dự trữ thiên nhiên Kim Hỷ đi tuần tra, kiểm tra rừng. (Ảnh: NGỌC HOAN)

Đồng chí Lê Hoàng Anh, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân Dân xã Vĩnh Thông chủ trì chỉ đạo và cùng lực lượng liên ngành gồm Phòng Kinh tế, Hạt Kiểm lâm số 6, Công an, Quân sự xã, Ban quản lý Khu dự trữ thiên nhiên Kim Hỷ đi tuần tra, kiểm tra rừng. (Ảnh: NGỌC HOAN)

Bổ sung thêm góc nhìn về căn nguyên xã hội của tình trạng phá rừng, Giáo sư Nguyễn Ngọc Lung, nguyên Viện trưởng Viện Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng nhận định: “Một phần nguyên nhân của tình trạng phá rừng hiện nay xuất phát từ trình độ nhận thức của người dân còn thấp, chưa hiểu hết được vai trò quan trọng của rừng. Để có thể giữ rừng, chúng ta cần có những biện pháp tuyên truyền để người dân hiểu được vai trò của rừng trong đời sống hiện nay, nếu giữ rừng họ được gì, và đánh mất rừng chính họ sẽ mất những gì”.

Rừng phòng hộ đầu nguồn và rừng ven biển được xem là “tuyến phòng thủ” trực tiếp trước bão, lũ, hạn hán và xâm nhập mặn. Tuy nhiên, đây cũng là những khu vực chịu áp lực lớn từ phát triển kinh tế và sinh kế của người dân.

Theo Giáo sư Nguyễn Ngọc Lung, bài toán rừng phòng hộ chỉ có lời giải khi người dân được hưởng lợi tương xứng: “Dân giúp phòng hộ nguồn nước, phòng hộ gió bão, đê biển thì dân phải được hưởng lợi. Nếu dân không được hưởng lợi thì giao gì họ cũng không nhận”. Giao rừng cho dân vì thế không chỉ là giải pháp sinh thái, mà còn là giải pháp xã hội, giúp gắn trách nhiệm bảo vệ rừng với lợi ích lâu dài.

Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng được đánh giá là một bước tiến lớn, góp phần tạo nguồn tài chính cho bảo vệ rừng. Giáo sư Nguyễn Bảo Huy phân tích: “Người giữ rừng bán dịch vụ giữ rừng của họ. Rừng được bảo vệ và phát triển tốt thì chất lượng dịch vụ phải cao hơn và được chi trả nhiều hơn”. Tuy nhiên, trên thực tế, mức chi trả giữa rừng có chất lượng tốt và chưa đạt chất lượng chưa có sự khác biệt rõ ràng, khiến động lực đầu tư nâng cao chất lượng rừng còn hạn chế.

Rừng phòng hộ tại tỉnh Bạc Liêu (cũ). (Ảnh: TTXVN)

Rừng phòng hộ tại tỉnh Bạc Liêu (cũ). (Ảnh: TTXVN)

Bên cạnh chính sách khuyến khích, Giáo sư Đặng Huy Huỳnh (Anh hùng đa dạng sinh học ASEAN) cho rằng cần có những chế tài gắn chặt với trách nhiệm địa phương. Những nơi làm tốt cần khích lệ, khen thưởng. Ngược lại, những địa phương buông lỏng quản lý cần xem xét cắt giảm nguồn chi trả để họ thấy rõ lợi ích thực sự của việc giữ rừng.

Ông nhấn mạnh: “Hiện nay, lâm tặc sử dụng rất nhiều máy móc, thậm chí cả xe tải cỡ lớn vào phá rừng. Việc chính quyền địa phương nói không hay không biết là vô lý. Cần phải gắn trách nhiệm của họ với sự sống của những cánh rừng thay vì chỉ xử lý các đối tượng lâm tặc như hiện nay”.

Trong bối cảnh đó, công nghệ số được xem là cánh tay nối dài cho lực lượng quản lý rừng. Với lực lượng mỏng, Hạt Kiểm lâm số 6 đã ứng dụng đồng bộ các công cụ công nghệ như ảnh vệ tinh, hệ thống cảnh báo sớm, flycam và camera giám sát tại các tuyến trọng điểm, giúp phát hiện sớm vi phạm và giảm áp lực tuần tra thủ công. Ông Hoàng Anh Tuấn, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm số 6, cho biết các hệ thống này không chỉ phát hiện vi phạm mà còn tạo sức răn đe rõ rệt.

Các hệ thống công cụ công nghệ như ảnh vệ tinh, hệ thống cảnh báo sớm, flycam và camera giám sát tại các tuyến trọng điểm không chỉ phát hiện vi phạm mà còn tạo sức răn đe rõ rệt.

Ông Hoàng Anh Tuấn, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm số 6

Ông Hoàng Anh Tuấn, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm số 6

Tuy nhiên, các chuyên gia cũng nhấn mạnh rằng công nghệ không thể thay thế vai trò của cộng đồng địa phương. Các ứng dụng đơn giản trên điện thoại thông minh cho phép người dân bản địa trở thành những “trạm quan trắc sống”: chụp ảnh, ghi nhận vị trí và gửi cảnh báo ngay khi phát hiện dấu hiệu bất thường. Việc số hóa dữ liệu rừng cũng giúp minh bạch hóa chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, tạo cơ sở để phân phối lợi ích công bằng hơn.

Nguồn: https://nhandan.vn/special/rung-viet-nam-3/index.html

NhanDan Logo

Hello Mình là Cải

Theo dõi
Thông báo của
0 Góp ý
Mới nhất
Cũ nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận

Tin Nóng Hôm Nay