
TP.HCM có lợi thế với hệ sinh thái logistics – sản xuất – xuất khẩu hội tụ trong “siêu đô thị” – Ảnh: QUANG ĐỊNH
Để duy trì vị thế đầu tàu và đạt mục tiêu tăng trưởng cao, TP phải giải bài toán chuyển đổi xanh.
Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông JOHN CAMPBELL – Giám đốc dịch vụ bất động sản công nghiệp Savills Việt Nam – cho rằng chuyển đổi từ công nghiệp thâm dụng lao động sang công nghệ cao và sản xuất xanh không còn là lựa chọn, mà là yêu cầu sống còn của TP.HCM.
Ông nói: Việc tái định vị các khu công nghiệp (KCN) nội đô đến tận dụng lợi thế của một “siêu đô thị” kết nối cũng như thay đổi danh mục thu hút đầu tư là những yêu cầu cấp thiết để TP phát triển bền vững và công nghiệp đóng góp lớn hơn vào tăng trưởng của TP.HCM.
Tập trung vào các ngành công nghiệp giá trị cao
* Đâu là lợi thế cạnh tranh mới của bất động sản công nghiệp TP.HCM khi trong “siêu đô thị” có cả thủ phủ công nghiệp Bình Dương (cũ) và hệ sinh thái công nghiệp, cảng biển, logistics, khu thương mại tự do (FTZ) từ Bà Rịa – Vũng Tàu (cũ)?

Ông JOHN CAMPBELL
– Việc hình thành một đơn vị hành chính mở rộng của TP.HCM tạo nên một cụm công nghiệp – dịch vụ có tính bổ trợ rõ rệt. TP.HCM tiếp tục đóng vai trò trung tâm của khu vực về dịch vụ, công nghệ cao, R&D và là trung tâm tài chính của khu vực. Bình Dương (cũ) đóng góp một trong những cụm sản xuất phát triển nhất cả nước, với dòng vốn FDI ổn định và kinh nghiệm dài hạn trong phát triển KCN.
Bà Rịa – Vũng Tàu (cũ) hoàn thiện hệ thống chung với năng lực cảng nước sâu Cái Mép – Thị Vải, FTZ, các KCN lọc hóa dầu và công nghiệp nặng, cùng các dự án điện khí LNG mới. Từ góc nhìn nhà đầu tư, những lợi thế này tạo nên một hệ sinh thái công nghiệp – logistics thống nhất và hiệu quả hơn. Các ngành công nghệ cao và công nghiệp hỗ trợ có thể đặt gần nguồn nhân lực chất lượng của TP.HCM.
Sản xuất trung, cao cấp có thể mở rộng tại Bình Dương (cũ) và hàng hóa khối lượng lớn được vận chuyển thuận lợi qua Bà Rịa – Vũng Tàu (cũ). Việc các cảng biển, sân bay và mạng lưới cao tốc nằm trong cùng một vùng đô thị mở rộng giúp nâng cao độ tin cậy của chuỗi cung ứng, yếu tố đang được các nhà sản xuất đặc biệt ưu tiên khi đa dạng hóa hoạt động tại châu Á.
* TP.HCM cần thay đổi “danh mục” thu hút đầu tư ra sao để vẫn phát triển công nghiệp, biến công nghiệp trở thành một trong những động lực tăng trưởng mới nhưng vẫn đảm bảo phát triển xanh, giảm sử dụng lao động, tăng cường công nghệ cao…?
– Để duy trì tăng trưởng công nghiệp nhưng đồng thời giảm phụ thuộc lao động, nâng cao hiệu quả môi trường và hướng tới công nghệ cao, TP.HCM có thể xem xét điều chỉnh chiến lược thu hút đầu tư theo các xu hướng quốc gia đang nổi lên.
Việt Nam đang dịch chuyển mạnh sang công nghiệp công nghệ cao, sản xuất số và công nghiệp xanh. Đây là cơ hội để TP ưu tiên các dự án có hàm lượng công nghệ lớn hơn, gắn với R&D và năng suất cao.
Việc này cần được hỗ trợ bằng hạ tầng sẵn sàng – nguồn điện ổn định, hệ thống xử lý nước thải chất lượng cao, mạng lưới giao thông kết nối tốt – cùng với phát triển nguồn nhân lực thông qua hợp tác với các trường đại học và cơ sở đào tạo nghề.
Song song đó, việc điều hướng các ngành thâm dụng lao động sang những khu vực phù hợp hơn ngoài khu lõi đô thị sẽ giúp tối ưu hóa sử dụng đất và cho phép TP tập trung vào các ngành công nghiệp giá trị cao.

Công nhân sản xuất bên trong một khu công nghiệp ở TP.HCM – Ảnh: QUANG ĐỊNH
Cơ hội mới cho công nghiệp TP.HCM
* Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt hiện nay, đâu là cơ hội cho TP.HCM để thu hút công nghiệp, nhà đầu tư bất động sản công nghiệp và FDI thế hệ mới?
– Dù bối cảnh toàn cầu còn nhiều bất định, khu vực phía Nam vẫn đang thu hút mạnh dòng FDI vào lĩnh vực sản xuất và chế biến nhờ môi trường vĩ mô ổn định và hạ tầng ngày càng hoàn thiện. Lợi thế công nghiệp hợp lực của TP.HCM tạo nền tảng thuận lợi để vùng hành chính mới tiếp cận làn sóng FDI thế hệ tiếp theo.
Cơ hội đang mở ra trong các ngành như bán dẫn, điện tử, sản xuất liên quan đến trí tuệ nhân tạo (AI), cơ khí chính xác, dược phẩm, năng lượng sạch và logistics hiện đại. Nhà đầu tư đánh giá cao khu vực nhờ khả năng kết nối cảng nước sâu, lực lượng lao động lớn và mạng lưới nhà cung cấp, công nghiệp hỗ trợ tập trung.
Chừng nào nguồn cung đất công nghiệp, độ ổn định của hạ tầng tiện ích và tiêu chuẩn môi trường tiếp tục được cải thiện, “siêu đô thị” này sẽ vẫn là một trong những điểm đến hấp dẫn nhất của Việt Nam cho sản xuất tiên tiến và đầu tư công nghiệp công nghệ cao.
* TP.HCM có những KCN đã phát triển nhiều năm, có những khu sắp hết hạn hoạt động, theo ông, cần có những giải pháp như thế nào đối với các KCN cũ này?
– Nhiều KCN tại TP.HCM nói riêng và các địa phương khác nói chung đã vận hành trong vài thập kỷ, dẫn tới các thách thức phổ biến như hệ thống hạ tầng kỹ thuật xuống cấp, quỹ đất hạn chế và nhà xưởng đã lỗi thời. Các giải pháp cần được cân nhắc tùy theo vị trí và mức độ khả thi.
Đối với những khu nằm trong khu vực đô thị hóa cao, việc tái phát triển theo hướng các chức năng công nghiệp có giá trị gia tăng cao hơn có thể phù hợp – chẳng hạn như mô hình nhà xưởng nhiều tầng, trung tâm R&D, sản xuất sạch hoặc các loại hình dịch vụ – công nghiệp. Với các khu vẫn còn quỹ đất và nhu cầu công nghiệp ổn định, việc cải tạo – nâng cấp tại chỗ là khả thi, theo mô hình KCN sinh thái mà Việt Nam đã thí điểm với các đối tác quốc tế.
Điều này bao gồm nâng cấp hệ thống xử lý nước thải, cải thiện hiệu quả năng lượng, tăng cường hệ thống quản lý số và thúc đẩy các liên kết kinh tế tuần hoàn giữa các doanh nghiệp trong khu. Những giải pháp này giúp kéo dài vòng đời hoạt động của các KCN cũ, đồng thời tiệm cận các tiêu chuẩn mới theo nghị định 35.
* Các quốc gia phát triển đã xử lý các KCN cũ như thế nào và đâu là bài học nào là phù hợp để áp dụng cho TP.HCM trong việc chuyển đổi công năng các KCN, thưa ông?
– Các nền kinh tế phát triển đã xử lý quỹ đất công nghiệp nội đô xuống cấp thông qua kết hợp giữa cải tạo môi trường, di dời theo giai đoạn và tái phát triển theo hướng sạch hơn, có giá trị gia tăng cao hơn.
Các ví dụ tại châu Âu và Đông Á cho thấy thành công thường dựa trên ba nguyên tắc: hướng dẫn rõ ràng về xử lý ô nhiễm, đầu tư vào hạ tầng hiện đại và xác định rõ vai trò mới cho khu đất, dù đó là công nghiệp sạch, R&D, logistics hay mô hình đa chức năng.
Đối với TP.HCM, những bài học phù hợp nhất mang tính thực tiễn. Công tác xử lý môi trường cần được lập kế hoạch sớm, hạ tầng giao thông và kỹ thuật phải được nâng cấp trước khi thu hút ngành nghề mới. Và định hướng tái sử dụng cần phản ánh nhu cầu thị trường, thay vì áp dụng một mô hình đồng nhất cho mọi khu. Những cách tiếp cận này giúp đảm bảo quá trình chuyển đổi các KCN cũ diễn ra theo hướng khả thi về mặt thương mại và có trách nhiệm về môi trường.
Hiện đại hóa hạ tầng để hút nhà đầu tư
Theo ông John Campbell, đối với TP.HCM, việc đảm bảo nguồn điện ổn định, hệ thống xử lý nước thải hiện đại, đáp ứng yêu cầu môi trường và tăng khả năng chống ngập là những việc cần yêu cầu cấp thiết khi chuyển đổi công nghiệp. Việc sàng lọc – thu hút đúng nhóm ngành cũng rất quan trọng.
Định hướng sang điện tử, bán dẫn, dược phẩm, sản xuất sạch và các dịch vụ hỗ trợ sẽ phụ thuộc vào mức độ kết nối giữa các khu này với Khu Công nghệ cao TP.HCM và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của TP. Với quy hoạch hợp lý, nâng cấp hạ tầng và tiến độ triển khai thực tế, các KCN nội đô hoàn toàn có thể chuyển đổi sang những chức năng bền vững hơn và tạo ra giá trị kinh tế cao hơn, đóng góp tích cực hơn vào tăng trưởng kinh tế của TP.HCM.
Ông Hardy Diec (Giám đốc điều hành Tập đoàn KCN Việt Nam):
Giải bài toán tăng trưởng bằng “chìa khóa xanh”

Ông Hardy Diec
Ba trung tâm sản xuất, dịch vụ, cảng biển quan trọng nhất phía Nam được đặt trong một cấu trúc thống nhất của “siêu đô thị” TP.HCM, tạo ra một quy mô và chiều sâu kinh tế mà trước đây khó có thể đạt được. Ở góc độ công nghiệp, lợi thế cạnh tranh mới của TP.HCM thể hiện rất rõ khi có khả năng thu hút các dự án FDI quy mô lớn, đặc biệt trong điện tử, bán dẫn hay trung tâm dữ liệu… Bên cạnh đó, việc tạo ra dư địa mới sẽ giúp TP duy trì sức hút FDI trong dài hạn, thay vì bị giới hạn bởi không gian cũ.
Đặc biệt, sự thống nhất về mặt thể chế cho phép TP điều phối quy hoạch vùng hiệu quả hơn. Khi mọi chính sách, hạ tầng và thủ tục đều được dẫn dắt bởi một đầu mối, tốc độ và chất lượng ra quyết định sẽ được cải thiện rõ rệt. Đây là yếu tố mà các nhà đầu tư đánh giá rất cao. TP.HCM mới đang hình thành một cấu trúc “siêu đô thị” đủ mạnh để cạnh tranh trực tiếp với các trung tâm trong khu vực như Bangkok hay Kuala Lumpur trong việc thu hút FDI thế hệ mới, đây là lợi thế mà TP cần tận dụng ngay từ giai đoạn đầu.
Một đô thị quy mô lớn muốn duy trì sức cạnh tranh không thể tiếp tục dựa vào mô hình công nghiệp sử dụng nhiều đất và nhiều lao động. Thực tế cho thấy TP.HCM đã nhìn thấy điều này từ khá sớm và đang chủ động dịch chuyển sang các ngành có giá trị cao hơn, ít phát thải hơn và đòi hỏi hàm lượng trí tuệ lớn chẳng hạn như điện tử, thiết bị y tế, bán dẫn, trung tâm dữ liệu, logistics hiện đại hay công nghệ sinh học… Điều này hoàn toàn phù hợp với xu hướng chung của các siêu đô thị trong khu vực.
Ở góc độ của một nhà phát triển công nghiệp, chúng tôi cho rằng đây là bước đi cần thiết để TP.HCM thu hút các nhà đầu tư thế hệ mới. Bên cạnh yếu tố ngành nghề, tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư cũng phải thay đổi. Các doanh nghiệp có năng lực công nghệ, tiêu chuẩn môi trường cao, cam kết đầu tư dài hạn và sẵn sàng tham gia vào hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của TP nên được ưu tiên. Đây là cách giúp TP.HCM xây dựng nền công nghiệp bền vững, ít phát thải nhưng có sức lan tỏa mạnh mẽ đến các ngành kinh tế khác.
Đọc tiếp
Về trang Chủ đề
Nguồn: https://tuoitre.vn/thay-ao-xanh-cho-cong-nghiep-20260225080515507.htm

