Tháng 3 vừa rồi, theo thống kê của phóng viên Dân trí, có 20 ngân hàng tăng lãi suất huy động. Trong đó, có ngân hàng trải qua 4 lần tăng lãi tiền gửi trong tháng.
Các đơn vị tăng lãi suất gồm VPBank, Sacombank, VietBank, MB, SHB, NCB, Techcombank, VietinBank, BIDV, BVBank, Vietcombank, Agribank, Saigonbank, OCB, MBV, Bac A Bank, TPBank, VCBNeo, LPBank, BaoViet Bank.
Trong đó, VPBank, MB, VietinBank, Sacombank, Agribank đã có 2-4 lần tăng lãi suất huy động trong thời gian này.
Thực tế, ngay từ đầu tháng 3, một số ngân hàng, đặc biệt nhóm quy mô nhỏ đưa ra chương trình lãi suất cao để hút khách gửi tiết kiệm. Nhiều nhân viên chi nhánh chạy chương trình lãi suất 8%/năm cho khách gửi tiết kiệm 6 tháng trở lên, với số tiền gửi tối thiểu từ 50 triệu đến 200 triệu đồng.
Lãi suất niêm yết của nhà băng cao nhất hệ thống khoảng 7,5% một năm. Để nhận mức lãi này, khách hàng thậm chí không yêu cầu số tiền gửi hoặc phải thuộc tệp khách VIP.
Mặt bằng lãi suất huy động trực tuyến tại các ngân hàng ngày 1/4 nhìn chung duy trì ổn định, song tiếp tục ghi nhận sự phân hóa rõ rệt giữa các nhóm.
Giao dịch tiền tại ngân hàng (Ảnh: Mạnh Quân).
Ở kỳ hạn 1 tháng, lãi suất dao động 1,6-4,75%/năm, tuy nhiên phần lớn các ngân hàng niêm yết quanh mức 4-4,75%/năm. Nhóm ngân hàng lớn như Vietcombank duy trì mức thấp hơn, trong khi nhiều ngân hàng như Agribank, BIDV, MB, VPBank áp dụng mức trần phổ biến 4,75%/năm. Đáng chú ý, SCB tiếp tục duy trì mức thấp nhất thị trường.
Kỳ hạn 3 tháng ghi nhận mặt bằng ổn định hơn, phổ biến trong khoảng 4-4,75%/năm. Các ngân hàng lớn như BIDV, VietinBank giữ mức 4,75%/năm, trong khi một số ngân hàng như ABBank, GPBank niêm yết thấp hơn, quanh 4%. Chênh lệch giữa các ngân hàng ở kỳ hạn này không quá lớn.
Tại kỳ hạn 6 tháng, lãi suất bắt đầu phân hóa mạnh, dao động từ 2,9% đến 7,3%/năm. Nhóm ngân hàng quy mô tầm trung như LPBank, MBV, VCBNeo, Bac A Bank, Techcombank niêm yết mức cao từ 7%, trong khi các ngân hàng lớn như Vietcombank, VietinBank chỉ duy trì quanh 5,5%/năm.
Ở kỳ hạn 9 tháng, xu hướng tương tự tiếp diễn với biên độ từ 2,9% đến 7,3%/năm. Các ngân hàng như LPBank, MBV, VCBNeo tiếp tục nằm trong nhóm dẫn đầu với mức trên 7%/năm, trong khi nhóm ngân hàng quốc doanh giữ mức thấp hơn, khoảng 5,5-6,6%/năm.
Kỳ hạn 12 tháng là tâm điểm cạnh tranh khi lãi suất dao động từ 3,7% đến 7,5%/năm. Một số ngân hàng như MBV (7,5%), LPBank (7,4%), Techcombank (7,25%), Bac A Bank (7,1%) niêm yết mức cao, trong khi nhóm ngân hàng lớn như Vietcombank, VietinBank duy trì quanh 5,9%/năm.
Nhân viên kiểm tra giao dịch tiền tại ngân hàng (Ảnh: Mạnh Quân).
Ngoài biểu lãi suất công khai, một số nhà băng còn áp dụng các chương trình ưu đãi riêng để nâng mức sinh lời thực tế cho người gửi tiền. Qua đó, lãi suất thực tế có thể chạm 9%/năm.
Xu hướng tăng lãi suất tiết kiệm bắt đầu từ cuối năm ngoái. Bên cạnh đó, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng cũng đi lên.
Theo số liệu của Hội nghiên cứu thị trường liên ngân hàng (Vira), lãi suất vay mượn giữa các nhà băng hiện tăng mạnh ở hầu hết kỳ hạn ngắn.
Trong đó, lãi suất vay qua đêm – kỳ hạn vay mượn chủ chốt – tăng mạnh từ mức 4,5% vào tuần trước lên 12%; kỳ hạn 1 tuần tăng lên 11,6%; kỳ hạn 2 tuần và một tháng lần lượt ở mức 7,45% và 7,75%.
Lãi suất liên ngân hàng tăng cho thấy thanh khoản hệ thống đang có dấu hiệu căng thẳng và khả năng gây áp lực lên lãi suất huy động và cho vay trên thị trường dân cư.
Ngân hàng Nhà nước cũng đã có văn bản yêu cầu thực hiện nghiêm theo chỉ đạo của Thống đốc tại Chỉ thị 01, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng bền vững.
Các nhà băng cần tiếp tục công bố lãi suất cho vay bình quân, chênh lệch lãi suất tiền gửi và cho vay bình quân, lãi suất cho vay các chương trình tín dụng, gói tín dụng và các loại lãi suất cho vay khác (nếu có) trên trang thông tin điện tử để khách hàng, người dân, doanh nghiệp thuận lợi trong quá trình tiếp cận nguồn vốn tín dụng.
Nhà điều hành yêu cầu các ngân hàng cân đối nguồn vốn – sử dụng vốn đảm bảo thanh khoản và khả năng chi trả, không gây xáo trộn mặt bằng lãi suất thị trường; hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an toàn hoạt động của tổ chức tín dụng.
Nguồn: https://dantri.com.vn/kinh-doanh/lai-suat-tiet-kiem-lap-dinh-moi-gui-tien-ngan-hang-nao-lai-nhat-thang-4-20260401012104312.htm

